Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Chùa Quan Âm tự - Quảng Bình

(QBO) - Theo quốc lộ 1A, từ Bắc vào hay từ trong Nam ra, đến phía Nam cầu Lý Hòa, rẽ về phía Đông khoảng 2km là tới chùa Quan Âm Tự.

Tương truyền, vào tháng 7/1802, đời vua Gia Long, một ngư dân tên là Hồ Lương Đường, trong một lần đi đánh cá ngoài biển, đã kéo lên được một pho tượng bằng đá. Ngày hôm sau, ông lại kéo được 1 bệ đá và 2 chiếc cối, 2 chiếc chày bằng đá (theo các nhà khảo cổ học thì đây là đồ dùng của người Chăm). Nhân dân cho đây 1à điểm lành nên dân làng đã dựng một ngôi nhà bằng tranh tre thờ vị quan âm đó để cầu phúc cầu tài.

Theo truyền tụng, trước đây vùng đất này không yên ổn, làm ăn thiếu may mắn. Nhưng từ ngày dựng "chùa" dân làng làm ăn phát đạt, làng xóm yên vui. Tiếng lành đồn xa, nhân dân trong vùng đến lễ chùa rất đông. Ngôi chùa trở nên chật hẹp, không đáp ứng được nhu cầu tâm linh của thiện nam tín nữ. Thể theo nguyện vọng của nhân dân, một Ban vận động xây dựng chùa với quy mô lớn được thành lập.

Chùa được khởi công xây dựng năm 1843. Sau hơn 2 năm lao động miệt mài của những người thợ và nghệ nhân tài hoa, ngày lễ vu lan (15/7 năm Ất Tỵ (1845) chùa được khánh thành. Chùa Quan Âm Tự tọa lạc trên một khu đất cao khoảng 15m, rộng 10.000m2 trông giống như một bông sen khổng lồ, sát bờ biển và ngã ba sông Lý Hòa thuộc xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch, rất thuận tiện cho khách tham quan cả bằng đường thủy lẫn đường bộ.

Chùa hoàn thành năm 1845, là ngôi chùa có quy mô khá lớn. Chùa làm bằng gỗ lim, theo phong cách kiến trúc Phương Đông, có hàng rào xung quanh. Chùa có tiền đường, thượng điện, nhà thờ tổ, tam quan, gác chuông. Khác với chùa khác của Việt Nam, phần nhiều do giai cấp quý tộc hay đồng minh của nó xây dựng, nên thể thức kiến trúc không có tính chất dân gian. Chùa Quan Âm Tự do nhiều cánh thợ ở các nơi đến làm. Mỗi cánh thợ làm một bộ phận. Vì thế các nhóm thợ thi nhau làm cho đẹp để lấy tiếng. Thợ làm chùa Quan Âm Tự là những người tự do, không bị quyền lực nào khống chế gò bó, câu thúc. Bởi thế những tác phẩm điêu khắc ở chùa trang trí đầy óc sáng tạo. Hình rồng, phượng ở chùa mỗi con mỗi vẽ. Xung quanh chùa là vườn cây trái, một không gian thoáng đảng yên tỉnh.

Buổi đầu chùa chỉ thờ tượng Quan Âm vớt được ở dưới biển. Dần về sau, do có nơi thờ phụng trang nghiêm nên tăng ni, phật tử trong chùa đã thỉnh về và nhiều vị cao tăng phật tử các nơi đã tiến cúng nhiều tượng cho chùa. Phật điện dần đông lên. Hiện nay, trong chùa có tượng hộ pháp, bộ tượng tam thế, a di đà, quan âm bồ tát, đại thế chí, được sư lưu ly, địa tạng, thích ca sơ sinh, ngọc hoàng, nam tào, bắc đẩu, hộ pháp long thiên, đạt ma tổ sư... Tất cả có 30 pho tượng.

Các tượng được làm bằng chất liệu khác nhau như đá, đồng, gỗ và có niên đại từ thế kỷ 18 đến 19. Các hoành phi, câu đối sơn son thiếp vàng đa phần nói về phật pháp nhiệm màu và có nhiều bức đại tự. Chùa Quan Âm Tự có một số hiện vật rất quý như: Hai chiếc cối đá và 2 chiếc chày đá, có, niên đại khoảng thế kỷ thứ 7, thứ 8. 2 chiếc đại hồng dung được đúc vào thời Tự Đức, chuông nặng 200 kg, tăng ni, phật tử ở đây coi như một báu vật. Trên chuông khắc một bài văn bia ca ngợi chốn danh lam thắng tích, nhắc lại truyền thuyết vớt được tượng quan âm.

Sau gần 140 năm tồn tại, tháng 5-1972, trong một trận chiến đấu vô cùng ác liệt, dân quân Đức Trạch đã phối hợp với bộ đội bắn chìm một tàu chiến, bắn rơi một máy bay và bắn bị thương nhiều tàu chiến khác, bắt sống tên phi công Mỹ. Trước thất bại nặng nề đó, đế quốc Mỹ đã huy động hàng trăm lần chiếc máy bay, điên cuồng ném xuống chùa và khu vực xung quanh hàng trăm tấn bom đạn, giết chết hàng trăm thường dân vô tội và các tín đồ phật giáo, 17 đồng chí bộ đội đã hy sinh, phá hủy gần như hoàn toàn ngôi chùa, cổng tam quan chỉ còn lại phần cổng chính.

Năm 1991, Với tinh thần trở về cội nguồn, giữ gìn một di sản văn hóa quý báu, các tín đồ trung thành với đức phật Thích Ca, đã góp công góp của xây dựng lại ngôi chùa khang trang như hiện nay.

Chùa Quan Âm Tự được dựng lên để thờ phật, hoằng dương phật pháp và cũng là một trường học kiến thức xã hội, nhất là đạo đức làm người. Chùa đã có những đóng góp đáng kể trong việc phục vụ lợi ích xã hội. Trong những năm tháng kháng chiến, chùa đã trở thành cơ sở cách mạng, nuôi giấu, che chở cán bộ. Tại ngôi chùa này đã chứng kiến nhiều lần kết nạp đội viên du kích, lễ tuyên thề của các chiến sỹ cảm tử quân trước khi ra trận. Ở đây cũng là điểm xuất phát của những người ban ngày là những phật tử - dân chài, ban đêm là du kích đi đánh đồn giặc, ngăn chặn địch hành quân đi cướp bóc, đốt phá.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chùa là nơi hội họp của chi bộ Đảng lãnh đạo nhân dân chống trả các cuộc càn quét của địch, bí mật đưa đón cán bộ cấp trên về chỉ đạo chiến đấu. Một số cán bộ trong số ấy đã nhiều lần bị địch vây giáp, truy kích nhưng do hóa trang thành phật tử đến hành hương nên đã thoát khỏi sự truy lùng của địch. Có pho tượng được đục thủng ở dưới đế để cất giấu tài liệu. Nhiều đồng chí hoạt động ở đây sau này đã trở thành những cán bộ chủ chất của tỉnh. Đặc biệt, có đồng chí Đặng Gia Tất sau này trở thành thư ký của đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư nổi tiếng của Đảng ta.

Chùa Quan Âm Tự nằm cạnh cửa sông Lý Hòa, sát bờ biển, trên một vùng đất rộng, không có gì che chắn, mùa đông thì ấm áp, mùa hè thì mát mẻ. Từ đây, nhìn ra xa là rừng phi lao, thông trãi dài tít tắp. Ở độ cao 15m, trước không gian rộng mở bao la, dường như không khí ở đây thoáng nhẹ hơn hẳn những nơi khác, chỉ cần bước vào khu vực nhà chùa ta đã cảm thấy như là sự yên tỉnh, trong sạch của chùa đã lọc đi trong lòng người những bụi bặm của đời thường, khiến ta cảm thấy thanh cao hơn, càng làm ta cảm cái ân tình của thiên nhiên mà người xưa đã chọn nơi đây để tạo dựng nên chùa.

Đến dâng hương chùa Quan Âm Tự mà chưa ra biển thì chuyến đi chưa phải đã trọn vẹn. Sát chùa Đức Trạch là bãi biển rất đẹp với bãi cát dài thoai thoải. Cát ở đây rất trắng nên nước biển trong và sạch không khác gì nước trong bể kính. Ai đến đây cũng cảm thấy khoan khoái dễ chịu và được hít thở bầu không khí trong lành.

Đến Đức Trạch viếng chùa, ngoài cảnh đẹp kỳ thú của thiên nhiên, biển cả, khi ra về, du khách còn có nhiều thứ đặc sản nổi tiếng làm quà. Đó là nước mắm Đức Trạch vàng ong, rất thơm, ăn vào không thể nào quên; là cá mực khô con to, dày và trắng, nướng lên ăn rất ngọt, đượm mãi trong cổ.

Lễ hội ở đây cũng thật đa dạng. Hầu hết các lễ, vía của phật đều được nhà chùa tổ chức. Nhưng hàng năm, cứ vào ngày rằm tháng 4 (Âm Lịch) - ngày phật đản, nơi đây lại diễn ra hội lớn. Dòng người thiện nam tín nữ tấp nập từ các vùng xung quanh đỗ về chùa Quan Âm Tự dâng hương.

Theo báo Quảng Bình, ảnh Phattuvietnam và nhiều nguồn khác

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Chùa Quốc Ân Tự - Huế

Quốc Ân tự là một trong những ngôi tổ đình danh tiếng và lâu đời bậc nhất tại cố đô Huế. Hiện tại chùa Quốc Ân vẫn còn bảo lưu nhiều dấu ấn văn hóa Phật giáo trong các thời kỳ từ Thuận Hóa đến Phú Xuân và Huế ngày nay.

Chùa thuộc hệ phái Bắc Tông, do tổ sư Tạ Nguyên Thiều khai sơn vào khoảng những năm 1682-1684 với tên ban đầu là thảo am Vĩnh Ân. Chùa là ngôi Tổ đình đầu tiên của phái thiền Lâm Tế từ Trung Quốc truyền sang. Chùa tọa lạc dưới chân đồi Hòn Thiên, số 143 đường Đặng Huy Trứ,  phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa do Thiền sư Nguyên Thiều khai sáng vào khoảng cuối thế kỷ XVII, mang tên chùa Vĩnh Ân. Năm 1689, Chúa Nguyễn Phúc Trăn mới đổi tên chùa, ban tấm biển Sắc Tứ Quốc Ân Tự. Chùa được trùng tu năm 1802 và nhiều lần về sau.

Tại chùa có tấm bia ghi bài minh tựa đề là “Sắc tứ Hà Trung Tự Hoán Bích Thiền sư tháp ký minh” dựng vào tháng 4 năm Bảo Thái thứ 10 (năm 1730) có giới thiệu Thiền sư Hoán Bích, người phủ Triều Châu, Quảng Đông, sinh năm Mậu Tý (1648), sang Việt Nam năm Đinh Tỵ (1677) khai sáng chùa Thập Tháp Di Đà, mở rộng Phật giáo. Sau ngài ra Thuận Hóa, sùng tạo chùa Quốc Ân và tháp Phổ Đồng... Thiền sư tịch năm Mậu Thân (1728).

Về mặt kiến trúc hàn lâm (chính thống), chùa Huế mang đậm nét bản sắc văn hoá Đông phương, nhưng dù được xây dựng theo hình gì, cấu trúc chung của một ngôi chùa Huế thường bắt đầu bằng tam quan. Tiếp đó là tiền đường để tiếp khách. Chánh điện là nơi tụng niệm. Hậu tổ - thờ vị khai sơn và các bậc hậu bối. Hai nhà tả - hữu, dành cho việc trọng đại. Trường thất - dành cho vị trụ trì chùa và tăng xá - nơi ở của các thầy. Ngoài ra còn có thiền đường - dành cho thiền hạnh một nơi không thể thiếu dù là chốn tu hành đó là tịnh trù - nhà bếp.

Nằm trong mô típ kiến trúc chung đó, chùa Quốc Ân cũng được kiến trú theo lối chữa "Khẩu". Dãy nhà phía Đông là nhà khách và nhà ăn; dãy đối diện ở phía Tây Nam là Tăng Xá. Bên sau là nhà thờ Linh. Quanh vườn Chùa có khoảng 09 Tháp và nhiều ngôi mộ. Những tháp cổ này rất có giá trị về mặt lịch sử. Đọc các Long Vị (có tổng cộng 27 cái) ở chùa Quốc Ân người ta thấy có ba dòng kệ. Trước hết là các ngài theo dòng kệ của ngài Siêu Bạch có chữ Minh, Thiệt, Tế, Liễu,…đứng trước. Có các ngài theo dòng kệ của Nguyên Thiều có chữ Thành, Phật, Tổ, Tiên, Minh, Như , Hồng,… chen lẫn nhau. Những người có chũ Tế ở trước thì hoặc là đệ tử của ngài Minh Hằng Định Nhiên hoặc là đệ tử của ngài Minh Vật Nhất Tri. Không có ngài nào của dòng kệ Liễu Quán vào trụ trì ở đây.

Khuôn viên chùa rộng khoảng 5.000m², trong đó diện tích xây dựng khoảng 550m². Từ bên ngoài vào ta thấy cổng Tam Quan - được làm theo lối tam quan mở với 4 trụ cột chia làm ba lối đi, mỗi trụ cột có một vế câu đối, bên trên đề ba chữ (Quốc Ân Tự), đi vào một sân thấp rộng. Lên đến sân chùa cao hơn thì ngoài hết ở bên phải người đi vào là bi đình trong đó có tấm bai Quốc Ân, đối diện phía bên trái là bia giống như thế nhưng không có chữ.

Cạnh bia là hai cái Am ở hai bên xây bằng gạch để thờ Thánh Mẫu và Ngũ Hành.  Đến khu chính điện, đây là một ngôi nhà làm theo mô típ truyền thống với 3 gian 2 chái và được xây dựng theo lối kiến trúc "Trùng thềm điệp ốc" - đây là ảnh hưởng theo lối kiến trúc Cung Đình nhà Nguyễn với cách cấu tạo gồm 2 nhà những chung một thềm (nền), trong đó mái sau của nhà trước và mái trước của nhà sau được nối với nhau bằng một hệ thống trần "Thừa lưu" hạ thấp uốn công như hình "Mai cua".

Trong điện Phật còn có bốn vế hai câu đối thếp vàng của Thiên Túng Đạo Nhân ngự đền, bên trên là biển hiệu đề "Sắc Tứ Quốc Ân Tự". Sát vách trong, sau lưng khám có biển đề bốn chữ "Linh Thứu Cao Phong", không đẹp bằng bức hoành cùng bốn chữa ấy, nhưng chính chúa Nguyễn Phúc Chu viết hiện treo ở tiền đường chùa Thiên Mụ.

Long khám chạm trổ rất đẹp, tượng Phật thờ có ba lớp, trên cao có ba pho tượng Tam Thế (quá khứ, hiện tại và vị lai Phật). Lớp giữa thì ở giữa có tượng Thích Ca lớn tay bắt ấn Tam Muội, bên trái người đứng lễ có tượng Chuẩn Đề có nhiều tay, bên phải có tượng Quan Âm. Phía trước hết có ba tượng đồng, hai bên có hai tượng giấy lồng kính quay mặt lại với nhau.

Gian trên thờ Đại Tạng, gian dưới thờ Quan Thánh. Mỗi bàn thờ đều có hai vế đối. Phái sau là nhà thờ tổ, bàn chính giữa có một Tiếu Tượng rất lớn và năm Long Vị để trong Long khám. Hai bên, mỗi bàn thờ đều có hai hàng Long Vị. Hàng trong cao hơn, mỗi bên có năm bài vị cổ trình bày đơn giản, hàng ngoài thấp hơn, mỗi bên có sáu Long Vị chạm trổ tỉ mỉ.

Chùa hiện lưu giữ được nhiều tượng khí và pháp khí xưa quý từ thời khai sơn cho đến nay. Đó là bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Phật Thích Ca được chú tạo vào khoảng năm 1851. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ chiếc khánh đồng có hoa văn rất đẹp đúc từ thời Minh Mạng và nhiều pháp bảo, pháp khí khác như đại hồng chung, bia ký...

Ngày nay, đến chiêm bái tham quan chùa Quốc Ân, chúng ta như đi vào một bảo tàng thu nhỏ trưng bày thờ tự nhiều tượng khí, pháp khí mang những dấu ấn văn hóa đặc trưng của Phật giáo xứ Đàng Trong nói chung và xứ Thuận Hóa nói riêng. Cũng chính vì lẽ đó, ngày 8-10-1993 UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế đã ra quyết định số 1046 bảo vệ chùa Quốc Ân.

tổng hợp

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Chùa Linh Sơn trên núi Bà Đen

Núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất Nam Bộ với chiều cao 986m so với mực nước biển, núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất Nam Bộ.
Chùa Linh Sơn Tiên Thạch (thường gọi là chùa Phật), chùa Thượng, chùa Bà, cùng với chùa Hang (chùa Linh Sơn Long Châu) và chùa Trung (chùa Linh Sơn Phước Trung) là những ngôi chùa nổi tiếng ở khu danh thắng núi Bà Đen.

Chùa Linh Sơn thường được gọi là chùa Bà hay chùa Bà Đen tọa lạc trên núi Bà Đen, thuộc ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Chùa do Thiền sư Đạo Trung – Thiện Hiếu thuộc chi phái Thiền Liễu Quán khai sơn vào giữa thế kỷ XVIII. Nguyễn Quyết Chiến trong bài Hệ thống tự viện núi Bà Đen trong tiến trình lịch sử (Báo Giác Ngộ ngày 22 – 02 – 1997) đã cho biết 11 đời trụ trì chùa như sau: Đạo Trung – Thiện Hiếu (1783 – 1806), Thanh Thanh (1806 – 1832), Hải Hiệp (1832 – 1857), Thanh Thọ – Phước Chí (1857 – 1878), Chơn Thoại – Trừng Tùng (1879– 1910), Chánh Khâm – Tâm Hòa (1910 – 1937), Nguyên Cơ – Giác Phú (1937), Nguyên Thần – Giác Hạnh (1937 – 1938), Giác Ngọc (1938 – 1951), khuyết trụ trì (1951 – 1957), Huệ Phương (1957 – 1962), Diệu Nghĩa (từ năm 1962 đến nay).

< Ảnh xưa.

Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Năm Mậu Ngọ (1857), Tổ Phước Chí đã bỏ ngôi chùa cũ lợp lá, vách ván, tổ chức xây dựng ngôi chùa khang trang. Ngài đã vận động nhiều Phật tử góp công góp của mở rộng đường lên núi, xây dựng ngôi chánh điện và giảng đường. Cũng vào thời gian này, cách chùa khoảng 300m, một nhà sư người Chiêm Thành, tục gọi là ông Chàm và nhà sư Huệ Mạng – Kim Tiên lấy hang đá làm nơi tu hành. Khoảng năm 1864, sư Huệ Mạng khai sơn chùa Linh Sơn Long Châu.

Năm Nhâm Thân (1871), Tổ Phước Chí cho xây chùa Phước Lâm kế cận dòng sông chảy qua ấp Vĩnh Xuân để khách hành hương đi bằng đường thủy ghé chùa nghỉ ngơi trước khi lên núi. Đến đời Tổ Chơn Thoại, ngài thấy cần xây một trạm dừng tại chân núi, tạo thuận lợi cho khách hành hương, nên đã cho xây ngôi chùa Linh Sơn Phước Trung, thường gọi là chùa Trung.

Năm Canh Tuất (1910), Tổ Tâm Hòa nối tiếp trụ trì đã cho mở rộng ngôi chùa, xây dựng thêm nhà nghỉ cho khách hành hương, mở con đường rộng 6m, dài 1300m từ chùa Trung lên chùa Phật. Năm 1924, ngài cho xây nhà Tổ, Đông lang, Tây lang, nhà Trù bằng vật liệu chủ yếu là đá.

Năm 1927, ngài cho lấp hố Điện Bà (sâu 50m, rộng 70m), tương truyền là nơi Bà quyên sinh, để lấy lối lên chùa Phật. Đây là công trình lớn, ngài đã huy động hàng trăm thợ lao động suốt bốn năm mới hoàn thành. 27 năm trụ trì của Tổ Tâm Hòa là thời kỳ chùa được hưng thịnh về mặt hoằng dương đạo pháp cũng như cơ sở tự viện với hơn 100 Tăng Ni tu học, khách hành hương về chùa mỗi ngày một đông. Ngài viên tịch vào ngày 08 – 01 năm Đinh Sửu (1937).

Các đệ tử của Tổ Tâm Hòa là Giác Phú, Giác Hạnh, Giác Ngọc kế tục quản lý và phát triển hệ thống tự viện ở đây đến năm 1945. Từ năm 1945 đến năm 1956, quân Nhật rồi quân Pháp kéo lên chiếm đóng, phá hủy hoàn toàn hệ thống tự viện ở đây.

Năm 1956, ngài Nguyên Chất – Giác Điền, trụ trì chùa Phước Lâm tổ chức xây dựng lại hệ thống chùa ở núi Bà. Ngài cho tháo dỡ ngôi Thiền đường và một số căn nhà phụ của chùa chở lên núi cất chùa tạm để có nơi lễ bái của Tăng Ni và khách hành hương. Ngài cùng thầy Huệ Phương hết lòng chăm lo tôn tạo ngôi chùa Phật và chùa Hang. Năm 1957, ngài Giác Điền viên tịch, ngài Huệ Phương tiếp tục công việc đến năm 1962 thì giao nhiệm vụ trụ trì cho Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa để về chùa Phước Lâm tu học. Từ đây cho đến năm 1975, công việc tái thiết các tự viện bị ngưng trệ. Một lần nữa, bom đạn chiến tranh đã phá hủy gần hết các công trình mới được xây dựng.

Hơn 40 năm trụ trì, Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa đã tổ chức nhiều lần trùng tu ba ngôi chùa: chùa Trung, chùa Phật và chùa Hang làm nơi tu học cho Tăng Ni, Phật tử và đón tiếp hàng vạn khách tham quan, chiêm bái hằng năm. Kiến trúc ba ngôi chùa hiện nay do Ni sư cho xây dựng từ năm 1992 đến năm 1997. Ni sư tiếp tục cho xây nhà Tổ, khu nhà Tăng, khu nhà Ni, khu nhà bổn đạo vào năm 2000. Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa đương nhiệm Phó Trưởng ban kiêm Ủy viên Tài chánh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Tây Ninh.

Chùa Linh Sơn Tiên Thạch được khởi công xây dựng vào ngày 16 – 10 năm Bính Tý (26 – 11 – 1996) và lạc thành vào ngày 20 – 11 năm Đinh Sửu (19 – 12 – 1997). Chùa có diện tích 210 m2 (bề rộng 14m, bề dài 15m). Chùa mang nét kiến trúc kết hợp hài hòa nét đẹp của nhiều ngôi chùa cổ trong nước. Đặc biệt, chùa còn giữ hai cột đá xanh được tạc thời Tổ Tâm Hòa (1919) ở tiền đường, mỗi cột cao 4,5m, đuờng kính 0,45m, chạm hình rồng uốn lượn rất đẹp.

Ở sân chùa Phật có tôn trí tượng đài Bồ tát Quan Âm. Tiền đường thờ tượng Tiêu Diện. Tầng trên thờ Bồ tát Di Lặc, Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền. Điện Phật thờ tượng đức Trung Tôn chính giữa (tư liệu của chùa cho biết tượng đức Bổn sư Thích Ca thiền định cao 2,5m) và chư Phật, Bồ tát: bộ tượng Di Đà Tam Tôn, đức Phật Thích Ca, tượng Đản sanh, Bồ tát Địa Tạng, Ngọc Hoàng... Hai bên có bàn thờ tượng Bồ tát Quan Âm và Bồ tát Thế Chí.

Trước điện Phật có tượng Tứ Thiên Vương: Ma Lễ Thọ, Ma Lễ Hồng, Ma Lễ Hải, Ma Lễ Thanh; tượng đức Hộ Pháp Vi Đà. Hai bên vách có bàn thờ Thập bát La Hán, Thập Điện Minh Vương, Mục Kiền Liên, Quan Thánh. Sau điện Phật, có bàn thờ Tổ sư Đạt Ma và các vị Tổ của chùa. Đặc biệt, ở điện Phật có tôn trí ngọc Xá lợi Phật, bảo vật do Hòa thượng Thích Hiển Pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, được Vua Sãi Thái Lan tặng, và Hòa thượng đã cúng dường cho chùa vào năm 2000.

Chùa có khu bảo tháp Tổ. Giữa là tháp Tổ Tâm Hòa, Tổ Giác Phú, Tổ Giác Điền. Hai bên là tháp Tổ Trừng Tùng và Tổ Thanh Thọ.
Bên cạnh chùa là Điện Bà Linh Sơn. Kiến trúc điện gồm một mái đá tự nhiên nhô ra tạo thành động, vòm mái cao 2,5m, và gian nhà thờ nhân tạo phía trước dài 8m. Trong điện thờ Linh Sơn Thánh mẫu, Thần Tài, Thổ Địa. Ở đây có tủ đựng y trang của Bà do thập phương bá tánh dâng cúng. Gian ngoài thờ Bồ tát Quan Âm và Địa Mẫu.

Có nhiều truyền thuyết dân gian kể về Bà Đen như: Sự tích nàng Đênh, truyện Lý Thị Thiên Hương...

Theo Thạch Phương và Lê Trung Vũ trong sách 60 lễ hội truyền thống Việt Nam (NXB. KHXH, Hà Nội, 1995) thì nàng Đênh là con của viên quan Trấn thủ vùng núi Tây Ninh. Năm 13 tuổi, nàng được cha mẹ gửi cho một nhà sư người Hoa để học đạo. Đến tuổi cặp kê, có con trai viên Tri huyện Trảng Bàng ngỏ ý cầu hôn, nhưng nàng từ chối vì đã có ý nguyện xuất gia. Một đêm, nàng lẻn bỏ nhà ra đi lên núi, nhưng chẳng may bị cọp vồ. Hôm sau, đến khi gia nhân viên quan Trấn thủ đi tìm thì nàng đã bị cọp ăn thịt, chỉ còn sót lại một chân nằm ở nơi kẹt đá. Song thân nàng đã cho mai táng phần thi thể còn lại trên núi và cho xây miếu thờ. Người dân địa phương cho rằng nàng chết oan tất phải linh hiển nên thường đến miếu cúng bái, mong được nàng phù hộ.

Theo tài liệu Truyền thuyết về Bà Đen (Báo Tây Ninh xuất bản năm 1998) thì cô gái Lý Thị Thiên Hương vốn nhan sắc mặn mà ở huyện Quan Hóa (nay là huyện Trảng Bàng) đính hôn cùng Lê Sĩ Triệt, chàng trai văn võ song toàn. Giữa buổi loạn ly, chàng Lê Sĩ Triệt gác tình riêng lên đường tòng quân cứu nước. Thiên Hương, một hôm lên núi viếng chùa thì gặp bọn cường sơn thảo khấu chặn đường uy hiếp. Sức yếu thế cô, nàng đành phải nhào xuống vực sâu quyên sinh. Đêm ấy, nhà sư trụ trì ngôi chùa trên núi được nàng báo mộng. Hôm sau, ông xuống vực sâu tìm và đem xác nàng đi an táng. Nàng rất linh hiển, luôn phù độ cho nhân dân trong vùng được nhiều ân phước. Người dân lập điện thờ Bà trên núi, từ đó núi có tên là núi Bà Đen.

Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, xưng hiệu là Gia Long, tưởng nhớ đến chuyện khi bôn tẩu khắp miền Nam, lúc đến núi được Bà mách bảo nên thoát nạn, liền sai Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Thành Gia Định, lên núi làm lễ sắc phong cho Bà danh hiệu Linh Sơn Thánh mẫu, đặt tên chùa Bà Linh Sơn Tiên Thạch Tự và tạc tượng Bà bằng đồng để nhân dân chiêm bái, phụng thờ. Săc phong đó về sau bị thất lạc. Đến đời Bảo Đại, vua tái sắc phong cho Bà.

Hằng năm, khách hành hương đến viếng chùa, miếu Bà rất đông vào tháng giêng và vào lễ vía Bà, ngày 5 và 6 tháng năm âm lịch. Từ năm 1983, tỉnh Tây Ninh đã thành lập Ban Tổ chức Hội Xuân Núi Bà và Ban quản lý Di tích lịch sử – văn hóa núi Bà Đen. Con đường từ thị xã Tây Ninh đến núi Bà dài 11km được trải nhựa, hệ thống lưới điện quốc gia đã nối mạng đến đỉnh núi, các cơ sở hạ tầng phục vụ khách hành hương được xây dựng hoàn chỉnh.

Đặc biệt, một hệ thống cáp treo đầu tiên ở Việt Nam đã được Công ty Du lịch Tây Ninh đưa vào hoạt động phục vụ du khách vào năm 1998, đi từ chân núi lên chùa Linh Sơn Tiên Thạch, đoạn đường dài 1225m, độ cao 225m, thời gian 18 phút/lượt. Hệ thống cáp treo, công nghệ Cộng hòa Áo do Trung Quốc sản xuất, tổng số 180 cabin (2 người lớn/cabin), 16 trụ tháp, công suất phục vụ 500 lượt khách/giờ. Hệ thống máng trượt, công nghệ của Đức do Trung Quốc sản xuất, cũng đã đưa vào hoạt động từ năm 2002. Hệ thống bao gồm hai tuyến khép kín: tuyến máng kéo 1.190m và tuyến máng trượt 1.700m, tốc độ tối đa 40km/g. Có hệ thống thắng tay, có hệ thống giảm chấn ở hai đầu xe trượt, có thắng tự động, có lưới bảo vệ, có dây đai an toàn.
Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Theo Vườn Hoa Phật Giáo

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

Khám phá chùa Địch Lộng

Du khách thăm chùa Địch Lộng sẽ đi từ Hà Nội, theo đường quốc lộ 1A về phía Nam qua cầu Đoan vĩ (còn gọi là cầu Khuất), rẽ tay phải đi khoảng 1km nữa là đến. Chùa Địch Lộng thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Chùa ở lưng chừng núi Địch Lộng, có độ cao so với chân núi khoảng 80 mét. Hệ thống kiến trúc đình, đền, ở đây được xây dựng dưới chân núi theo thế chữ Tam" trên một khu đất rộng hơn 1ha. với ngôi đình 5 gian mọc sừng sững được gọi là Đình Đá, vì tất cả các cột, tảng, xà đùi, cái bẩy đều bằng đá.

Trước khi lên chùa, du khách vào ngôi đình đá này để tưởng niệm thánh Nguyễn Minh Không và thưởng ngoạn một công trình kiến trúc đình chủ yếu bằng đá. Tám cột đá bằng đá xanh nguyên khối, tròn, to, cao hơn 4m đều được trạm nổi những con rồng lớn đang uốn lượn trong mây để hút nước, cá chép theo nước vượt lên. Có khắc rồng, du khách có cảm giác như được xem một đàn rồng lớn đang bay. Mỗi con rồng quấn quanh cột đều có một dáng vẻ khác nhau rất sống động.

Tám cột quân to, tròn như cột cái khoảng 3m, hai hàng trước sau, mặt tiền đều được trạm khắc nổi các câu đối chữ hán ca ngợi cảnh đẹp nơi đây với những ý tưởng sâu sắc. Tất cả 16 cột đá này đều được đặt trên những tảng đá cổ bồng lớn cao 0,60m. Rất hiếm có ngôi đình nào có toàn bộ phần chính của nhà được làm bằng đá xanh nguyên khối trạm khắc công phu và tỷ mỉ như vậy! ở đây đã thể hiện tài năng trạm khắc đá của các nghệ nhân vùng đất Cố Đô Hoa Lư lịch sử.

Hai bên tả hữu cửa động là 2 tượng Hộ Pháp đối diện nhau như đứng canh cổng chùa, tạo cảm giác tự tin, ấm áp . Vách động bên tay trái du khách ở trên cao 8m, treo 1 quả chuông lớn cao hơn một mét, nặng khoảng một tấn ,đúc ở thời Nguyễn.

Du khách bước sang bên tay phải là đến động thờ Phật. Đây chính là chùa Địch Lộng quay hướng Nam. Trước cửa chùa có các khối đá giống hình voi chầu ,hổ phục ,sư tử chầu như đang canh giữ bảo vệ cửa Phật. Ở đây còn có rất nhiều nhũ đá đẹp lấp lánh như cái dù che, rủ xuống như chuông treo.

Trong chùa có bầy nhiều tượng Phật, các pho tượng phật uy nghiêm, nhân từ do con người tạo dựng hoà nhập với các nhũ đá của thiên nhiên. Tất cả hiện lên linh nghiêm trong ánh đuốc bập bùng và những loé đỏ của hương trầm phảng phất mùi thơm cõi thiền.

Hang Tối nằm ở phía trái, vào hang du khách sẽ thấy ngay khối nhũ đá to, tròn, nhẵn lì mọc từ nền hang nhô lên. Đó là bầu sữa mẹ của tạo hoá, có nhiều nhũ đá từ trên nóc động chẩy xuống trông giống như những cột chống trời. Tại đây, du khách sẽ có cảm giác như lạc vào cõi trùng điệp của đá có đủ mọi hình dạng ngoại mục. Mỗi không gian của vách động, trần động là một bức tranh nghệ thuật, những nét trạm khắc tuyệt vời của thiên nhiên, đạt đến mức tinh xảo mà con người không thể nào làm được.

Đi hết hang Tối là đến hang Sáng, vì ở trên cao cửa hang Sáng thắt hẹp lại, có khoảng lộ thiên, khi có gió thổi mạn vào trong động phát ra âm thanh của đá nghe như tiếng sáo. Vì vậy động mang tên là Địch Lộng (Địch nghĩa là sáo, Lộng nghĩa là gió).

Điều độc đáo ở hang Tối và Hang Sáng là các thạch nhũ, lấy đá gõ vào thì lanh lảnh như tiếng chuông. Đó là những thạch cầm của thiên nhiên. Đặc biệt hơn nữa là những rải nhũ đá trong hang lấp lánh bảy sắc cầu vồng và mầu sắc thay đổi theo ánh sáng mặt trời.

Chùa Địch Lộng hàng năm đều tổ chức lễ hội vào thời gian từ ngày 6 đến 10 tháng giêng Âm lịch, kéo dài đến hết tháng 3.

Theo Tin tức Du Lịch

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

Thiền viện Trúc Lâm - Đà Lạt

(Vnexpress) - Nằm cạnh hồ Tuyền Lâm, Thiền viện là điểm tham quan yêu thích khi du khách đến với thành phố mộng mơ, là nơi bất kỳ ai cũng có thể tìm thấy những phút giây lắng đọng trong tâm hồn như ở chốn hư không, thanh khiết.

Cùng với Trúc Lâm Yên Tử ở Quảng Ninh, Trúc Lâm Tây Thiên ở Vĩnh Phúc, Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt là một trong ba thiền viện lớn nhất nước ta theo phái Trúc Lâm. Cách trung tâm thành phố 5 km, Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt nằm trên núi Phụng Hoàng, giữa ngàn thông xanh ngắt, bên cạnh hồ Tuyền Lâm. Với vị trí đẹp mắt, đây không chỉ là nơi chiêm bái mà còn là điểm tham quan của nhiều du khách trong và ngoài nước.

Bạn có thể lên Thiền viện bằng hai cách: đường bộ hoặc cáp treo. Từ trung tâm TP Đà Lạt, bạn đi theo quốc lộ 20 xuống đèo Prenn chừng 4 km, có một con đường đá rẽ phải, đầu đường có một tượng Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, đó là đường đi lên Trúc Lâm Thiền viện. Nếu chọn cáp treo, bạn theo đường 3/4 đến đỉnh đồi Robin rồi mua vé lên thẳng Thiền viện.

Bước tới cổng tam quan dưới những rặng thông reo thoang thoảng hương đưa, bạn như trút bỏ hết ưu tư, phiền muộn, tràn ngập tâm trí lúc này chỉ còn cảnh quan thanh khiết tuyệt vời. Trong chính điện thờ Phật Thích Ca cầm cành hoa sen, hai bên là Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử và Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng 6 ngà. Bởi vậy, du khách, phật tử đến đây để dâng hương, cầu xin an bình, may mắn.

Với nhiều người, đến với Trúc Lâm Thiền viện là dịp hòa mình vào không gian thanh tịnh chốn Thiền môn, để tìm lại bản ngã tâm hồn sau những ồn ào, tất bật đời thường. Bởi thế có nhiều người đến xin tập tu ngắn ngày và được xếp ở nhà khách hai tầng dưới lưng chừng đồi với khu vườn xanh mát. Sớm tối nghe chuông, đọc kinh Phật và ăn cơm chay. Lúc đông nhất, Thiền viện có hàng nghìn tăng ni, phật tử đến theo học về thiền.

Dù mới được xây dựng, Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt thu hút khách du lịch gần xa bởi vẻ đẹp Phật giáo hài hòa kim cổ và thiên nhiên tươi đẹp xung quanh.

Có thể nói vườn hoa của thiền viện là một trong những điểm dừng chân yêu thích khi du khách đến đây. Ngoài những lúc tham gia các thời khoá sinh hoạt của thiền viện, bạn có thể thư giãn với muôn sắc hoa trong vườn. Rất nhiều loài hoa đẹp và quý hiếm như sim tím, bông gòn Úc, phù dung…được các hòa thượng mang từ khắp nơi trên thế giới về trồng, khiến khung cảnh càng thêm thơ mộng.

Từ trên Thiền viện nhìn xuống, 5 nhánh suối đổ về Tuyền Lâm như bàn tay 5 ngón lấp lánh ánh bạc dưới nắng trời. Xa xa là đỉnh voi phục soi bóng xuống hồ như một chứng nhân huyền thoại. Bạn cũng có thể thuê thuyền dạo chơi trên đại dương thu nhỏ - Tuyền Lâm để cảm nhận một Đà Lạt thật khác giữa cao nguyên hùng vĩ.

Ngoài Thiền Viện Trúc Lâm, ở Đà Lạt còn có Tu Viện Bát Nhã, chùa Đại Giác… là nơi bạn cũng có thể xin ở lại ít ngày để tĩnh tâm, hướng Phật.
Xem thêm >

Theo Kim Anh (Vnexpress.net)

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

Đền Gắm ở Tiên Lãng

Đền Gắm, tên chữ là Cẩm Khê - di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng di sản văn hóa quốc gia. Đền Gắm là một tòa miếu cổ, nằm ven sông Văn Úc, thuộc địa bàn xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng. Người xưa truyền tụng thứ nhất đền Bì, thứ nhì đền Gắm đã khẳng định vị trí quan trọng của di tích trong hệ thống các công trình tín ngưỡng ở đây.

Đền Gắm nằm trên gò đất cao nhô ra dòng sông sâu như một bán đảo, rợp bóng cây xanh. Hiếm có một di tích được sự hỗ trợ đắc lực của thiên nhiên như ở đây. Đền quay hướng đông nam, soi mình bên dòng sông xanh ngắt. Kiến trúc đền mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (1802 – 1945).

Đền thờ Thái phó Ngô Lý Tín, một nhân vật lịch sử có công phò vua giúp nước thuộc đời nhà Lý (1010 - 1225). Sử cũ chép rằng, Ngô Lý Tín, sinh ngày 20 tháng 1 năm Bính Ngọ (1126) ở trang Vĩnh Đồng, huyện Khoái Châu, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, thân phụ, thân mẫu là ông Ngô Huy Hiếu và bà Đào Thị Phúc. Thuở nhỏ, Ngô Lý Tín theo học một thầy đồ nổi tiếng ở Hải Dương, với tư chất thông minh, chăm chỉ, nên được thầy yêu bạn quý. Năm ông 18 tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời, mãn tang cha mẹ, ông tìm đến trang Cẩm Khê, huyện Bình Hà, trấn Hải Dương, nay là thôn Cẩm Khê, xã Toàn Thắng mở trường dạy học, luyện tập võ nghệ.

Bấy giờ vào thời buổi nhiễu nhương, giặc cướp nổi lên khắp nơi, cộng với mất mùa hạn hán, đời sống nhân dân cực khổ, giặc ngoại xâm quấy phá biên thùy. Vua Lý Anh Tông ban chiếu cầu hiền, Ngô Lý Tín xin ứng mộ, đem theo 30 người thôn Cẩm Khê đi cùng, lập nên nhiều chiến công hiển hách. Năm Nhâm Dần (1182), Ngô Lý Tín được phong chức Thượng tướng quân, mang quân thủy bộ dẹp loạn trộm cướp. Năm 1183, ông được cử làm đốc tướng chinh phạt quân Ai Lao xâm lấn biên giới, chiến thắng trở về, nhà vua phong ông làm Thái phó. Năm 1188, quan phụ chính đại thần, Thái sư Đỗ An Di mất, triều đình cử thái phó Ngô Lý Tín làm phụ chính cho vua Lý Cao Tông, làm vị quan lớn đầu triều, giữ trọng trách đối với giang sơn đất nước.

< Chơi cờ tướng ở lễ hội đền Gắm.

Ông mất năm Canh Tuất (1190), tương truyền, khi quan Phụ chính Ngô Lý Tín cùng một đoàn thuyền đem tướng sĩ, gia nhân trở về thăm lại trang Cẩm Khê xưa không may gặp bão to, thuyền chìm, ông và mọi người đều thác nhằm ngày 9 tháng 10 âm lịch. Tưởng nhớ công ơn vị tướng anh dũng, nhân dân trang Cẩm Khê lập đền thờ ông.

Trải qua những biến cố thăng trầm của thời gian, lịch sử, qua nhiều lần tu sửa, đền Gắm vẫn mang kiến trúc cổ xưa, phong cách kiến trúc thời Nguyễn kiểu “tiền nhất hậu đinh” gồm 5 gian tiền đường, 3 gian tiền tế, gian hậu cung. Các kèo gỗ có kết cấu kiểu “thuận chồng, đốc thước”, mái lợp ngói mũi hài, các cửa theo kiểu “cửa thùng khung khách”.

Dấu vết cổ xưa nhất là bốn viên gạch Bát Tràng, khổ 30cm x 30cm trang trí nổi hình rồng. Hai viên ghép lại thành một con rồng hoàn chỉnh. Rồng có thân trường mập, vẩy rắn, đuôi cá chuối, sống lưng có hàng vây cá chép. Đó là những con rồng mang phong cách nghệ thuật thế kỉ 16 (thời Mạc) điển hình. Những viên gạch này là di sót của chiếc sân lọng nối giữa tòa tiền đường và tòa hậu đường của ngôi đền xây dựng năm Hồng Phúc nguyên niên (1572).

Ngoài ra, trong kiến trúc chính của đền còn giữ được một số viên ngói mũi hài lớn, loại vật liệu thường gặp trong các công trình kiến trúc cổ nước ta, có niên đại thế kỉ 16 – 17.

Đền Gắm được trùng tu trên quy mô lớn dưới triều Nguyễn, với cấu trúc "tiền nhất hậu đinh" quen thuộc gồm 5 gian tiền tế, 3 gian tiền đường và một gian hậu cung. Trong kháng chiến chống Pháp, Cẩm Khê là một địa bàn quan trọng của vùng hậu cứ Tiên Lãng.

Hằng ngày, ca nô, tàu chiến địch tuần tiễu ngược xuôi theo dòng Văn Úc và chúng xả sung vào từng bụi cây, gò đất mà chúng nghi là có du kích, bộ đội phục kích. Tàu chiến địch đã bao lần nã sung vào đền Gắm, phá trụi tòa tiền tế, làm hư hại tòa tiền đường và hậu cung.

Đền Gắm hiện bảo tồn, lưu giữ được một số di vật quý như bức cuốn thư, cửa võng chạm “lưỡng long chầu nguyệt”, y môn chạm “lưỡng long chầu hoa cúc”, long đình, nhang án, bát bửu, câu đối, chuông đồng, ngai rồng. Điều đặc biệt, đền Gắm được xây dựng trên chính mảnh đất Thái phó Ngô Lý Tín cắm đất làm nhà, mở trường dạy học, rèn luyện binh thư, võ nghệ và nổi danh khắp vùng. Mặc dù là nơi thờ vọng nhưng có phần mộ của thái phó thuộc hậu cung của đền, đấy chính là cội nguồn của sự linh thiêng và từ xa xưa nhân dân nơi đây đã lưu truyền câu: “Thứ nhất đền Bì, thứ nhì đền Gắm”.

Năm 1992, đền được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia. Hiện nay, đền Gắm đang từng bước hoàn thiện việc trùng tu, tôn tạo bằng nguồn vốn của Trung ương. Dự án trùng tu, tôn tạo góp phần tạo dựng khu di tích quy mô lớn hơn trên một khuôn viên hài hòa, hoàn chỉnh, rộng khoảng 13 nghìn m2, phục vụ nhu cầu thăm viếng, thờ tự, tín ngưỡng, lễ hội, giới thiệu lịch sử văn hóa.


< Hậu cung đền Gắm mới được tu bổ, tôn tạo.

Lễ hội đền Gắm được tổ chức vào 3 ngày 18, 19, 20 tháng giêng hàng năm, phần lễ với nhiều nghi thức trang nghiêm, phần hội sinh động, phong phú, mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian Bắc bộ với nhiều trò chơi truyền thống như đấu vật, kéo co, chọi gà, đánh đu… thu hút hàng nghìn du khách ở mọi miền tổ quốc về dự.

Cùng với đó, dọc theo dòng Văn Úc hiền hòa còn có chùa Thắng Phúc, xã Tiên Thắng, ngôi chùa quy mô lớn vào bậc nhất của Thành phố, khu du lịch suối nước khoáng nóng xã Bạch Đằng, sự kết hợp này tạo nên một tour du lịch tâm linh, sinh thái đồng quê độc đáo, thu hút đông đảo khách du lịch về tìm hiểu và khám phá.

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

Miếu Chúa xứ Thủy Tề

(TBKTSG) - Du khách đến Bạc Liêu cúng bà Nam Hải thường viếng thăm miếu Chúa Xứ Thủy Tề cách đó không xa. Miếu Bà tọa lạc trên một sở đất rộng, thoáng đãng và sạch sẽ, thuộc phường Nhà Mát, thị xã Bạc Liêu. Ngôi miếu này được xây dựng vào năm 1919 bắt nguồn từ những huyền thoại và tín ngưỡng bản địa của cư dân ven biển Bạc Liêu.

Truyện kể rằng, ngày xưa, có nhóm ngư dân giong thuyền ra biển đánh cá, bỗng dưng gặp cơn giông bão, thuyền có nguy cơ bị đắm, các ngư dân trên thuyền hết lòng cầu nguyện, cầu bà Chúa Xứ, bà Thủy Tề có linh thiêng hãy phù hộ độ cho họ được tai qua nạn khỏi.

Mặc dù mưa gió bão bùng, thuyền của các ngư dân này chỉ chao đảo chứ không chìm, lần hồi chống chọi với cơn bão, thuyền của họ cũng cặp bến an toàn. Họ tin rằng, mình được an toàn là do bà Chúa Xứ, bà Thủy Tề phù hộ nên kêu gọi dân làng gom góp tiền bạc, công sức xây dựng ngôi miếu ở nơi thuyền họ cập bến an toàn. Từ đó, nơi đó có ngôi miếu Chúa Xứ Thủy Tề cho đến nay.

Thực ra, đây là dạng tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam có nguồn gốc từ miền Bắc, miền Trung theo dấu chân của những di dân vào Nam bộ. Khi các lưu dân vào khai khẩn vùng đất hoang Nam bộ, họ mang theo trong tâm thức của mình vốn văn hóa cội nguồn của dân tộc, trong đó có cả tín tưởng thờ Mẫu - tín ngưỡng gắn liền với cuộc sống của cư dân nông nghiệp.

Trong quá trình Nam tiến, ở những chặng đường dừng chân, cư dân Việt đã có sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa với các cư dân bản địa. Ở khu vực miền Trung, họ tiếp xúc với một nền văn hóa Chămpa rực rỡ. Đó là tín ngưỡng thờ Mẫu Thiên Y Ana (Por Inư Nagar) chính là vị Thánh Mẫu tạo dựng vương quốc Chiêm Thành. Trước vẻ đẹp rực rỡ của một nền văn hóa Chămpa, trước sự vĩ đại, nhân từ của bà Por Inư Nagar, cùng với sự tương đồng về tín ngưỡng, người Việt cảm thấy gần gũi hơn nên gọi Mẹ là Bà Chúa Ngọc.

Đến khu vực Nam bộ, những lưu dân Việt lại tiếp xúc và giao lưu với nền văn hóa Khmer. Trong tín ngưỡng Khmer có tục thờ nữ thần, như nữ thần coi sóc một vùng Néang Khmau (Bà Đen), nữ thần Néang MéSar (Bà Trắng)...

Trước những tín ngưỡng đó, sẵn với những hình tượng mẫu có trong tiềm thức, người Việt đã phủ tín ngưỡng thờ Mẫu của mình lên thần linh bản địa. Vì vậy, họ chấp nhận một pho tượng đá dù biết rằng mình không phải là chủ nhân, sau đó thờ phượng và sơn phết lại cho mang nét nữ tính để phù hợp với tín ngưỡng của mình. Đó là tín ngưỡng thờ Mẫu.

Miếu Chúa Xứ Thủy Tề tuy không lớn nhưng hết sức trang nghiêm, tạo một cảm giác bình an trong lòng du khách. Khi đến đây, điều đầu tiên du khách cảm nhận là cổng miếu được xây rất chắc và đẹp, với dòng chữ miếu Chúa Xứ Thủy Tề ở bên trên. Bên trong cổng là một khoảng sân rất rộng, ước chừng hơn một công đất được tráng xi măng sạch sẽ. Bên tay phải của du khách là miếu Thần Hổ. Bên trái là gian chính điện của miếu.

Miếu được xây dựng khá đơn giản. Mái được lợp ngói đỏ hình vảy cá. Trên mái được chia làm ba lớp theo hình chữ tam. Ở mỗi nóc mái có tượng rồng chầu ngôi bảo tháp. Hàng cột trước gian chính điện được đắp nổi hình rồng đang quấn lấy thân cột. Hai bức vách phía trước của ngôi miếu có đắp nổi hình rồng phượng rất lộng lẫy.

Gian chính điện được chia làm ba gian. Gian giữa là bàn thờ của hai vị Chúa Xứ và Thủy Tề. Tượng hai vị thần này cao lớn, được phục sức lộng lẫy, đặt trong khánh thờ. Trên khánh thờ có buông rèm, trang trí hoa văn, họa tiết làm cho ngôi miếu càng mang vẻ tôn nghiêm hơn. Hai gian hai bên là bàn thờ tả ban và hữu ban. Miếu cũng có đông lang và tây lang. Một bên dùng để thờ các vị phật, như Thích Ca, Địa Tạng..., một bên dùng làm phòng nghỉ cho khách đường xa.

Hằng năm, cứ vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, Ban trị sự của miếu tổ chức lễ vía hai bà. Trong ngày vía này, không chỉ có ngư dân mà còn có dân làng địa phương và du khách gần xa. Tất cả thành kính dâng hương cúng bà, cầu mong hai bà phù hộ cho mình được bình an và khỏe mạnh. Ngoài ngày vía ra, trong những ngày thường, ngôi miếu cũng đón một lượng lớn khách thập phương đến đây tham quan, cúng viếng. Nhất là vào những ngày cúng bà Nam Hải, phòng khách của ngôi miếu lúc nào cũng đặc kín người bởi những đoàn tham quan từ Tp. Hồ Chí Minh cũng như từ các tỉnh trong khắp nước.

Tuy không phải là một ngôi miếu bề thế, nhưng miếu Chúa Xứ Thủy Tề thật sự là một nơi để mọi người gởi gắm đức tin, tìm kiếm sự bình an cho mình. Cho nên miếu Chúa Xứ Thủy Tề không chỉ là một nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mà đây còn là một nơi để du khách gần xa đến đây tham quan, chiêm bái, cầu mong chút yên bình giữa cuộc sống xô bồ nơi chốn hồng trần.

Theo Trần Kiều Quang (The Saigon Times) + ảnh internet

Bài đăng phổ biến