Hiển thị các bài đăng có nhãn Điểm du lịch Miên Tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điểm du lịch Miên Tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Nhà Cổ Thuận Hưng (Cần Thơ)

Từ quốc lộ 91 theo hướng từ Cần Thơ đi Long Xuyên chừng 30km, rẽ phải vào thêm 3km về phía sông Hậu là đến trung tâm phường Thuận Hưng, thuộc quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Nhìn ngang qua sông chỗ Thuận Hưng là cù lao Tân Lộc.

< Nhà cổ Thuận Hưng nhìn từ bên ngoài gồm kiến trúc ba gian hai chái, diện tích nền nhà gần 200 mét vuông.

Dọc theo tuyến đường bộ và đường sông này, đi qua các quận Ô Môn, Thốt Nốt, cù lao Tân Lộc, rất nhiều nhà cổ có kiến trúc theo nhiều thời kỳ khác nhau. Tiền nhân của cư dân vùng này đã theo Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và các vị công thần triều Nguyễn vào Nam mở mang bờ cõi, định cư lập nghiệp gầy dựng nên.

Từ khu chợ quê của Thuận Hưng rẽ trái chừng 150 mét, cũng về phía bên trái, du khách sẽ gặp một ngôi nhà toàn bằng gỗ có kiến trúc nhà xưa Nam bộ, trước nhà có sân gạch Tàu rộng rãi; đó là ngôi nhà cổ ở số 52, ấp Tân Phú, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ; chủ nhân là ông Nguyễn Phùng Sanh, thường gọi là bác Mười Giai.

< Đình Thuận Hưng.

Tên gọi “nhà cổ Thuận Hưng” trở nên quen thuộc từ khi khách du lịch thường tìm đến tham quan ngôi nhà đặc biệt này; hiện vẫn giữ được gần như nguyên vẹn kiến trúc và nội thất của một ngôi nhà đã tồn tại gần trăm năm tọa lạc gần ngôi đình Thuận Hưng, trung tâm văn hóa và tín ngưỡng dân gian của cộng đồng cư dân địa phương.

Vị trí đình Thuận Hưng thuộc Tân Phú, phường Thuận Hưng ngay trước khu chợ. Đình được hình thành vào năm 1845, có tên gọi “Tòa Miếu Võ”, đến năm 1848 miếu được nâng cấp thành đình. Vùng này được đặt tên là Tân Thuận Đông, lúc đó đình cũng mang tên gọi của vùng là đình Tân Thuận Đông.

Đến ngày 11/12/1935, làng Tân Thuận Đông lại sáp nhập với làng Tân Hưng thành làng Thuận Hưng, đình Tân Hưng được dời theo về sáp nhập với đình Tân Thuận Đông, lấy tên gọi chung là đình Thuận Hưng, có nghĩa là Thuận hòa - Hưng thịnh. Tên gọi đó được lưu giữ cho đến nay.

Giữa năm 1848, ông Lê Văn Liễu cùng một số dân làng lên đường ra tận kinh đô Huế, dâng sớ lên nhà vua xin được cấp sắc thần để thờ phụng. Vua Tự Đức đã phong sắc cho đình là “Bổn Cảnh Thành Hoàng”. Từ khi có sắc thần, dân chúng làm ăn ngày càng phát triển, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống yên ổn, hạnh phúc.

< Ông Nguyễn Phùng Sanh, chủ nhân nhà cố Thuận Hưng.

Nhà cổ Thuận Hưng được xây dựng từ năm 1925, sau khi có đình Tân Thuận Đông do ông Nguyễn Văn Hổ là ông nội của ông Nguyễn Phùng Sanh xây dựng. Ngôi nhà gồm kiến trúc ba gian hai chái. Ban đầu còn có thêm hai nhà phụ cất năm 1938; đến năm 1964, gia đình lại dỡ hai nhà phụ ra để chia vật liệu của hai nhà đó cho con cháu xây cất nhà ra riêng.

Ngôi nhà hiện nay có dáng dấp kiến trúc nhà rường truyền thống Nam bộ. Mái nhà lợp ngói móc, vách bằng ván gỗ. Mặt tiền quay về hướng Đông, hướng của mọi điều tốt lành. Diện tích nền nhà gần 200 mét vuông.

Cổng nhà rộng khoảng hai mét, nằm phiá bên phải ngôi nhà. Con đường vào nhà cũng phía bên phải chạy thẳng từ cổng vào. Sân nhà cổ rộng khoảng 300 mét vuông, chiều dài của sân trên 20 mét, rộng khoảng 15 mét được lót gạch Tàu. Trước nhà có hàng chậu kiểng, tô điểm thêm vẻ đẹp trang trọng của ngôi nhà.

Điều khác lạ của ngôi nhà này là hàng cột hiên lại được đặt trên nền sân thay vì trên nền nhà. Mặt sân lại thấp hơn nền nhà tạo nét khác biệt trong kiến trúc, để xử lý không gian chuyển tiếp từ sân vào nhà. Kiến trúc này là cách làm có ý nghĩa làm mát đi không khí chuyển vào nhà, làm giảm mưa, giảm nắng tạt xiên vào nhà, một trong những kiến trúc được sử dụng ở vùng khí hậu nhiệt đới.

< Nội thất nhà cổ Thuận Hưng. Gác trên cao chính giữa nhà là cái khánh thờ (nhìn như kiệu để khiêng) cất giữ sắc thần đình làng Thuận Hưng.

Lối chính vào nhà có bậc tam cấp, độ cao của bậc tam cấp cao vừa phải nhưng hơi hẹp bước chân, do đó mỗi khi đặt bước lên tam cấp vào nhà ai ai cũng phải cúi xuống nhìn. Không biết người xưa thiết kế bậc tam cấp này có dụng ý không, nhưng điều này vô tình lại là động tác cúi đầu khi bước vào, như một nghi thức cúi chào bàn thờ tổ tiên đặt giữa gian nhà chính.

Nhà có 4 hàng cột. Mỗi hàng có 6 cột. Tất cả các cột đều có đế kê chân bằng đá. Các đầu kèo phiá ngoài được chạm khắc hình đầu chim phụng. Trong nhà, 6 cặp liễn đối chữ Hán cẩn ốc xà cừ trên nền đen của gỗ căm xe, có nội dung dạy dỗ con cháu. Ngôi nhà tuy mang màu gỗ đơn giản nhưng nội thất trông uy nghi sang trọng của một thời kỳ hưng thịnh. Đặc biệt nhất của phòng khách là bộ thập bát ban võ nghệ gồm những binh khí thể hiện uy thế của người xưa. Phía trên phòng khách, ngay chính giữa nhà có một khánh thờ có cán cầm tay ở hai đầu như một chiếc kiệu nhỏ là nơi cất giữ sắc thần của đình Thuận Hưng.

Chỉ có những gia đình quyền thế, uy tín nhất trong vùng mới được làng tín cẩn giao cho vinh dự phụng giữ sắc thần tại nhà. Sắc thần mang giá trị tinh thần rất lớn đối với cộng đồng, là bảo vật thiêng liêng của đình làng, thể hiện giá trị chỗ dựa tâm linh cho một vùng được vua ban. Sắc thần của đình Thuận Hưng được vua Tự Đức ban cho vào năm 1852. Mỗi khi cúng đình, lễ thượng điền, hạ điền… sắc thần phải được ban Tế tự, chính quyền địa phương cùng bà con tổ chức lễ “thỉnh sắc” long trọng từ nhà cổ Thuận Hưng về đình để làm lễ cúng tế. Sau lễ cúng, sắc thần được thỉnh “hồi sắc” mang trở lại nhà cổ Thuận Hưng để tiếp tục phụng giữ.

< Bộ bàn tròn bằng gỗ cẩm lai, dạng chân quỳ tạc đầu sư tử.

Bộ tủ thờ bằng gỗ trong gian phòng khách đặt ở giữa gian được cẩn ốc xà cừ cũng cùng thời kỳ với những năm xây dựng nhà cổ với tranh cảnh mô phỏng truyền thuyết cách đối nhân xử thế của con cháu đối với tổ tiên ông bà với tích “Nhị thập tứ hiếu”.

Hai chái hai bên nhà là nơi nghỉ ngơi. Chái bên trái dành cho phái nam theo tục “nam tả, nữ hữu” và bên phải dành cho nữ giới có các bộ ván để ngả lưng nghỉ tạm.

Nhà cổ Thuận Hưng nằm trong vùng có nhiều sắc màu văn hoá địa phương như nhà cổ, đình làng Nam bộ, chợ quê, làng làm bánh tráng loại để cuốn, bánh tráng ngọt để nướng, đi “trẹt” qua sông, cù lao Tân Lộc với trải nghiệm văn hoá sinh thái đảo, nhà bè nuôi cá tra, làng nghề đóng ghe xuồng…

Ngôi nhà cổ này là mẫu hình kiến trúc đậm nét văn hóa Việt ở Nam bộ. Cùng với nhiều nhà cổ khác như nhà cổ ông Nguyễn Trung Ái cũng ở vùng Thuận Hưng, các nhà cổ ở cù lao Tân Lộc… rất thuận tiện cho một tuyến du lịch hấp dẫn bằng xe đạp, khám phá văn hóa của vùng đất gắn với làng nghề truyền thống, gắn với thời kỳ mở cõi của cha ông ta ngày nào.


Du lịch, GO! - Theo Lâm Văn Sơn (Thời Báo Kinh Tế Sàigòn).

Khu du lịch sinh thái Bình Phó B (Cần Thơ)


Quận Bình Thủy (TP Cần Thơ) có một số trọng điểm du lịch thu hút khách nước ngoài. Đó là đình Bình Thủy, Nhà Cổ - Vườn Lan, Nam Nhã Đường, Mộ Thủ khoa Nghĩa...
Nhưng địa phương này còn có một tuyến du lịch sinh thái được khách nước ngoài ưa thích: Bình Phó B.

Đi tuyến này, khách nước ngoài thường được tàu máy chở từ Bến Ninh Kiều theo rạch Bà Bộ vào vùng quê sông nước miệt vườn khu vực Bình Phó B thuộc phường Long Tuyền. Buổi sáng tinh mơ, con rạch nhỏ sẽ đưa du khách qua những bến bờ xanh ngắt bóng cây, mê mải ngắm nhìn cảnh đánh bắt cá bằng các phương tiện thủ công của người dân...



Lướt qua Quán ăn sinh thái Bảy Bờ Kè, theo con rạch Súc, tới điểm Du lịch sinh thái nhà vườn Thảo Nguyên, tàu máy tiến vào rạch Mương Khai (còn gọi là rạch Phó Thọ hoặc rạch Lòng Ống) là đến Vườn trái cây Ba Cống.

Vườn trái cây Ba Cống đi vào hoạt động một cách bất ngờ. Đầu tiên, nhà ông Ba Cống là vựa trái cây bán cho lái chợ Cần Thơ. Mùa khô, khách nước ngoài đến đây thích thú với cầu khỉ lạ mắt bắc ngang rạch; xóm làng trầm mặc nấp trong bóng cây xanh, những lùm tre xạc xào gió đùa êm tai; những nhà vườn trồng bông đẹp mắt..., thấy vựa trái cây phong phú bên bờ rạch bèn bảo tài công ghé tàu vào chơi, rồi đòi ăn thử một vài loại trái cây. Càng ngày, khách càng ưa thích điểm du lịch vườn này.



Từ một nhà vườn du lịch đơn sơ, từ năm 2002, đến nay, khu vườn rộng 2ha này trồng vú sữa Lò Rèn, xoài cát Hòa Lộc, mận, điều, bưởi Năm Roi, măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, dâu Hạ Châu, dâu bòn bon...

Đặc biệt, khách Tây rất thích tham quan 7 bờ ổi không hột, trồng 700 cây ổi. Đi giữa hai hàng ổi này, du khách mê say ngắm nhìn những trái ổi tròn dài căng da nằm gọn trong bọc nylon. Vườn có 5 nhà ăn nhỏ và 1 nhà ăn lớn, phục vụ từ sáng tới tối. Tuy nhiên, ông Ba Cống cho biết, khách Tây đi theo tua chỉ đi tham quan từ 7 giờ 30 tới 11 giờ 30 thì chấm dứt. Khoảng thời gian còn lại là những khách Tây đi tua lẻ. Ngoài không khí trong lành, mát mẻ, làng quê êm ả, khách Tây rất khoái đạp xe (đem theo trên tàu máy) lòng vòng khắp nơi trên những con đường lót đan bằng phẳng, sạch sẽ, nhất là rất hào hứng và thích thú cẩn trọng đặt chân đi qua chiếc “cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi”.



Gần Tết Nguyên đán, cả vùng rộ lên sắc màu sặc sỡ trăm hoa khoe sắc. Làng hoa Bình Phó B là một bộ phận gắn liền với làng hoa Bà Bộ - một làng hoa truyền thống nổi tiếng trên 60 năm của Cần Thơ. Rộng khoảng 100ha với trên 300 hộ trồng hoa tập trung vào dịp Tết Nguyên đán, làng hoa Bà Bộ chuyên khai thác các loại hoa và cây cảnh bản địa mà người đồng bằng ưa chuộng, như: mai, cúc, vạn thọ, thược dược, bông giấy, mãn đình hồng... Đến đây vào những ngày gần Tết, khách lúc nào cũng được chứng kiến cảnh ghe xuồng tấp nập chở hoa ra chợ hoa Cần Thơ.

Trên đường trở lại Bến Ninh Kiều, nếu có nhu cầu, tàu sẽ ghé vào khu Du lịch sinh thái nhà vườn Thảo Nguyên - được xây dựng với kiến trúc khá hiện đại kết hợp nét chân quê.

Thảo Nguyên tọa lạc trên diện tích 2.000 mét vuông, là nơi thư giãn với những món ngon đậm nét Nam Bộ trong những chòi lá ven rạch. Tại đây còn có bộ phận đờn ca tài tử phục vụ khách theo yêu cầu. Cao hứng với khung cảnh yên lành, thoáng mát, khách có thể tạm trú qua đêm trong khu nhà nghỉ dưới những chòm cây rợp bóng, giá 120.000 đồng/phòng lạnh...

Nếu không, trở ra thêm chút nữa, khách ghé Quán ăn sinh thái Bảy Bờ Kè, cách cầu Bà Bộ trên quốc lộ 91B, 50m. Quán rộng 5.000 m2, tuy mới khai trương ngày 8/9/2008, nhưng đã ngày càng thu hút khách đến thưởng thức vị ngọt ngon quen thuộc, đặc biệt lạ miệng của từng món ăn do đầu bếp của quán pha chế. Có thể đến quán bằng các phương tiện: xe hai bánh, xe bốn bánh, vì đường vào lót đan khá rộng. Quán có khoảng sân lớn, xe bốn bánh đậu thoải mái. Theo một trong các con đường tráng xi măng sạch sẽ của quán, khách sẽ chọn cho mình một chiếc "tum" ưng ý để ngồi ăn. Quán có 13 tum nhỏ, 1 tum dài (5 bàn) cùng 2 phòng lạnh (10 khách/phòng).



Tum được lợp bằng lá dừa nước xé, nền lót gạch tàu, đơn giản nhưng thanh lịch, cất trên một bờ mương nước. Các mương lấm tấm màu xanh biếc của bèo hoa dâu, màu xanh ngọc của những đám lục bình dân dã. Bên dưới màu xanh dịu mắt đó, là nơi cư ngụ của những bầy cá đồng. Yên vị rồi, khách cứ thư thả chọn cho mình và gia đình (hoặc bè bạn) những món ăn yêu thích trong bảng thực đơn khá phong phú của quán. Đến với Quán ăn sinh thái Bảy Bờ Kè, ai cũng thắc mắc cái tên "quái quái". Hỏi, thì ra do quán tọa lạc bên bờ rạch được kè đá. Tết này, khi "tiếng lành bay xa", quán ăn sinh thái Bảy Bờ Kè sẽ là điểm đến của người sành ăn không chỉ khu vực Bình Phó B, mà còn là của người dân quận Ninh Kiều.

Du lịch, GO!

Thiền Viện Trúc Lâm Phương Nam (Cần Thơ)


Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam tọa lạc tại xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền (TP. Cần Thơ) trên tuyến Lộ Vòng Cung, cách làng du lịch Mỹ Khánh khoảng 1.000 mét. Du khách đầu tiên khi đặt chân đến đây không khỏi ngỡ ngàng trước dáng vẻ độc đáo của ngôi chùa mang nét văn hóa kiến trúc thời Lý – Trần.

Thiền viện được xây dựng trên diện tích 38.016,6 m2, được khởi công xây dựng vào ngày 16.7.2013 và hoàn thành sau 10 tháng thi công. Ngày 17.5.2014, lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam đã được Ban tri sự Phật giáo TP. Cần Thơ tổ chức một cách trọng thể. Trụ trì Thiền viện hiện nay là Đại đức Thích Bình Tâm (trước trụ trì chùa Long Quang – Bình Thủy, TP.Cần Thơ).



Có thể nói, đây là ngôi chùa lớn nhất ở ĐBSCL, có kết cấu mái lợp ngói, khung cột bằng gỗ quí, gồm những hạng mục chính (đã hoàn thành) như: Chính điện (Đại Hùng Bửu điện), nhà Tổ (Tổ Ấn Trùng Quang), Tháp chuông, Tháp trống (4 hạng mục trên làm bằng gỗ lim, khoảng 1.000 khối nhập từ Nam Phi). Hội trường làm nơi giảng đạo (hơn 500 tăng sinh, phật tử), Khu tăng xá, Nhà khách;  Khu trai đường, Thư viện, Nhà thủy tạ và Phòng thuốc nam... Dulichgo

Du khách đầu tiên khi đặt chân đến đây không khỏi ngỡ ngàng trước dáng vẻ độc đáo của ngôi chùa mang bản sắc văn hóa kiến trúc thời Lý – Trần. Cổng chính Thiền viện là những vòm mái vuốt cong với hình đầu rồng cách điệu, cửa làm bằng gỗ quí sơn màu nâu bóng loáng. Hai bên cổng đặt 2 bức tượng cao thếp vàng: bên trái là tượng Vi Đà Hộ Pháp (Ông Thiện) với tâm nguyện của ngài là bảo vệ ngôi Tam Bảo; bên phải là tượng Tiêu Diện Đại Sĩ (Ông Ác, dân gian còn gọi là Ông Tiêu), là vị Bồ Tát chuyên hàng phục quỷ yêu, cứu độ chúng sinh.



Phía trong cổng là sân gạch rộng rãi, thoáng đãng. Bên phải là nhà thủy tạ nằm trên mặt hồ tròn vành vạnh gợn sóng lăn tăn, với những bông hoa súng khoe sắc tươi thắm dưới ánh mặt trời. Dẫn vào nhà thủy tạ là một cây cầu sơn màu đỏ, bên trong có bức tượng Phật Di Lặc bằng gỗ quí (màu nâu), với nét mặt vô ưu. Phía bên trái cũng là nhà thủy tạ, với lối kiến trúc giống nhau, duy chỉ khác có bức tượng thờ Phật Bà Quán Âm bằng đá trắng (cao khoảng 2 mét) được đặt trang trọng bên trong với vẻ mặt bao dung, thánh thiện như soi rọi hết mọi đau khổ của chúng sinh và sẵn sàng ra tay “từ bi” cứu độ. Dưới chân tượng có lư hương, nhang đèn để khách thập phương tiện việc chiêm bái. 



Cũng cần nói thêm là trên đường dẫn vào chính điện có 2 hàng tượng bằng đá hoa cương xếp song song (mỗi bên 9 tượng) với nghệ thuật điêu khắc thật khéo léo, tượng trưng cho tín ngưỡng đặc thù dân gian. Dulichgo
Tiếp tục đi bộ trên khoảng sân gạch khá dài và rộng, du khách sẽ đến sân nơi chính điện. Phía bên phải là tháp chuông với mái cong cao vút, bên trong là đại hồng chung (chuông đồng) nặng 1,5 tấn, còn bóng loáng. Bên trái là tháp trống cũng cùng lối kiến trúc như tháp chuông, trong đó trống đặt trên giá gỗ được chạm trổ thật công phu, tinh xảo, mang tính nghệ thuật cao. Hai công trình nghệ thuật này mô phỏng theo lối kiến trúc tháp chuông Chùa Keo (tỉnh Thái Bình). Kế bên Tháp trống là mô hình Chùa Một Cột thu gọn.



Khi đã chiêm quan thỏa thích những tuyệt tác nghệ thuật bên ngoài nơi Thiền viện, du khách sẽ dừng chân bên trong chính điện (còn gọi là Đại Hùng Bửu Điện) để chiêm bái. Đập vào mắt du khách trước hết là toàn bộ khu chính điện thật thâm nghiêm, cổ kính, nền lót gạch tàu màu đỏ thoáng mát. Chính điện được xây dựng bằng  44 cột gỗ lim to (cỡ vòng tay ôm người lớn) được bào nhẵn và phủ sơn bóng loáng. Tất cả các cột đều được đặt trang trọng trên những tấm tán bằng đá xám vân mây, chạm trổ hình hoa sen cách điệu. Dulichgo

Giữa chính điện là tượng Phật Thích Ca bằng đồng mạ vàng, cao khoảng 2 mét (nặng 3,5 tấn) tĩnh tọa nơi tòa sen bóng loáng uy nghi.

Phía phải chính điện là bệ thờ: tượng Bồ Tát Văn Thù, Đức Chúa Ông. Phía trái là bệ thờ tượng: Bồ Tát Phổ Hiền, Đức Thánh Hiền (tất cả đều làm bằng gỗ thủy tùng (gỗ Du Sam 800 năm), chạm trổ thật tinh vi khéo léo. Và trên mỗi cột có những câu liễn đối (bằng tiếng Việt trên nền vàng chữ đen) toát lên sự trang nghiêm, khiến du khách khi đặt chân vào đây lòng cảm thấy lâng lâng, thanh tịnh...

Nếu có dịp đến  TP. Cần Thơ, mời bạn hãy cùng bạn bè và người thân tổ chức một chuyến du lịch tâm linh đến Thiền Viện Trúc Lâm Phương Nam để chiêm quan những công trình nghệ thuật độc đáo nơi đất Tây Đô này.

Theo Ba Cần Thơ (Dân Việt)
Du lịch, GO!

Cần Thơ gạo trắng nước trong...


Ai đã một lần đến thủ phủ miền Tây Nam Bộ, mảnh đất từng được xưng tụng bằng mỹ danh Tây Đô mới thấy được cái "thần" của câu ca: Cần Thơ gạo trắng nước trong/Ai đi đến đó, lòng không muốn về...
Cần Thơ hôm nay mang trong mình nét duyên thầm kín đáo của tà áo bà ba làm tôn thêm vẻ duyên dáng của các thiếu nữ vùng châu thổ cùng chút điệu đà của một thành phố đang chuyển mình trong tiến trình đô thị hoá...

Chúng tôi xuống Cần Thơ, thủ phủ miền Tây Nam Bộ - Tây Đô, vang bóng một thời, trong không gian chộn rộn những ngày cuối năm dương lịch. Dường như ở từng con đường, góc phố vẫn còn "rơi rớt" chút dư âm của ngày hội dạ cổ hoài lang mới được tổ chức. Ai cũng nhận ra một điều... đã đến đây rồi, lòng không muốn về!

Là đô thị trẻ nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ soi bóng xuống sóng nước dòng sông huyền thoại, níu chân khách phương xa với rộng dài mênh mông sông nước và điệu hò mượt mà, trầm lắng của những thôn nữ "miệt" châu thổ.



Là đầu mối thông thương với các tỉnh thành trong khu vực, Cần Thơ được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống giao thông đường thủy chằng chịt, hình thành nên kiểu buôn bán, giao thương đặc trưng vùng sông nước, ruộng đồng mênh mông thẳng cánh cò bay, cây trái xanh tươi bát ngát. Và hơn thế nữa, nơi đây còn có dòng "đặc sản" các cù lao: cồn Sơn, cồn Khương, cồn Tân Lộc... Không hề khiên cưỡng khi nói những cù lao này đem lại cho khách phương xa nhiều cảm xúc dạt dào trong một môi trường sinh thái thơm ngát phù sa.

Từ bến Ninh Kiều - điểm hợp lưu của hai dòng sông Cần Thơ và Hậu Giang, phóng tầm mắt qua ô cửa chiếc phà giữa mênh mông sóng nước Cửu Long, chợt nhớ lời "dặn dò" của các chiến hữu Sài thành: "Xuống Cần Thơ mà chưa ghé chợ nổi coi như phí hoài cả chuyến đi". Lời giới thiệu nhiệt tình cộng thêm chút lâng lâng từ chén rượu mít thắm tình bằng hữu của ông Lê Thiếu Phương, Phó bí thư Thường trực Quận ủy Ninh Kiều càng thôi thúc tiến vào cuộc khám phá...



Quả đúng như lời "quảng cáo", Cần Thơ có nhiều chợ nổi nức tiếng: Cái Răng, Phong Điền, Phụng Hiệp. Trong đó, Cái Răng là điểm "nhấn" trong nhật ký hành trình của chúng tôi. Từ bến Ninh Kiều đến chợ nổi Cái Răng chỉ khoảng 5km đường chim bay. Nếu chỉ cần "cưỡi ngựa xem hoa", khách phương xa có thể tham quan chợ với 15 phút đi xe bus. Ngoài ra, khách còn nhiều lựa chọn khác như đi taxi hoặc xe ôm. Nếu nặng lòng với "hương đồng gió nội", bạn nên đến tàu du lịch Ninh Kiều và chuẩn bị cho chuyến đi thú vị với vé khứ hồi khoảng 200.000 đồng. Chúng tôi chọn phương án hai - lênh đênh sóng nước ba đào để rồi sau chuyến đi ai cũng thấy hài lòng với sự lựa chọn đáng đồng tiền bát gạo ấy. Bạn cứ hình dung, trong lãng đãng mờ sương và thoang thoảng hương phù sa, Cần Thơ buổi sớm thật nên thơ trong tiếng hò sông Hậu. Tất cả vẽ nên một bức tranh chân chất vùng châu thổ...


Thế rồi sau khoảng "lặng" chừng 40 phút di chuyển giữa mênh mông sóng nước, không gian như vỡ oà bởi tiếng rao hàng lảnh lót từ khắp các ghe thuyền thay lời chào khách phương xa... Đúng như những gì chúng tôi mường tượng, Cái Răng phô diễn diện mạo của mình qua hàng hàng lớp lớp ghe thuyền thúng mủng, sôi động náo nhiệt kẻ mua người bán.


Nét độc đáo dễ thấy trong toàn cảnh không gian chợ chính là cách tiếp thị chào hàng rất độc đáo: mỗi chiếc ghe có một ngọn sào treo những sản vật của vùng sông nước: bắp cải, bí ngô, chuối, chôm chôm, bông lúa... Ngọn sào thay cho pa - nô, áp phích quảng bá, một hình thức giản dị, tiết kiệm nhưng đã làm nên nét văn hóa của chợ nổi. Cứ thế, người ta thoả sức bán mua. Sầm uất là thế nhưng chợ nổi cũng nhanh chóng tan tầm theo con nắng dần lên. Chúng tôi từ giã phiên chợ độc đáo mang theo câu hò mượt mà của một bóng áo bà ba thoắt ẩn thoắt hiện theo nhịp chèo đò:



Hò ơ, hò ơ ớ ơ...
Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó, lòng không muốn về
... Nước phù sa là nước dòng sông Hậu,
Đất lành chim đậu là đất Cần Thơ...

Ông Hồ Văn Hoàng, Phó trưởng ban Tuyên giáo TP. Cần Thơ sôi nổi nói: "Ngoài vẻ đẹp của chợ nổi, Cần Thơ còn mang vẻ đẹp tiềm ẩn của một môi trường sinh thái hoàn hảo qua hệ thống kênh rạch chằng chịt - những mạch máu làm nên mảnh đất tràn trề sức sống".



Quỹ thời gian hạn hẹp không cho phép chúng tôi khám phá hết những kỳ ảo của dải đất từng là nơi quần cư của vương quốc Phù Nam vang bóng một thời. Nơi đây, nền văn hoá óc Eo đã phát triển rực rỡ suốt gần 600 năm sau Công nguyên. Ngày nay, tích xưa còn ghi dấu ở cụm di tích trên dải đất 9 rồng: Long Quang cổ tự, nhà cổ Bình Thủy, chợ cổ Cần Thơ, Long Tuyền cổ miếu...

Chúng tôi về trung tâm thành phố khi đèn đường đã tỏ. Mai về Sài thành phồn hoa đô hội sẽ mang theo bao điều nhung nhớ. Cần Thơ ơi...
Thành phố Cần Thơ nằm ở hữu ngạn sông Hậu, cách TP. Hồ Chí Minh 169km về phía Tây Nam. Đây là thành phố trực thuộc Trung ương, diện tích tự nhiên 1.389,59 km2. Cần Thơ có 8 đơn vị hành chính gồm 4 quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn và 4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh.

Theo Yume (Du Lịch)

Long Tuyền Cổ Miếu (Cần Thơ)


Đình Bình Thủy (Long Tuyền Cổ Miếu) là một đình thần thuộc quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Đây là một công trình có giá trị về kiến trúc nghệ thuật cổ truyền của người Việt giai đoạn khai hoang miền Tây Nam bộ.
Đình được dựng vào năm Giáp Thìn (1844), nguyên thủy thờ Thành hoàng của làng Bình Hưng, tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định - phủ Ba Xuyên - tỉnh An Giang.

Năm 1852, Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt đi tuần thú trên một hải thuyền, gặp phải một trận cuồng phong, nhưng nhờ ẩn nấp kịp nơi vàm rạch Bình Hưng nên vô sự. Thoát nạn, Huỳnh Mẫn Đạt cho tổ chức tiệc mừng để vui cùng nhân dân địa phương và cho đổi lại tên rạch và tên đất này là "Bình Thủy".



Đồng thời ông tấu trình lên vua Tự Đức, xin ban sắc phong cho thần Thành Hoàng làng. Từ đó, làng có tên mới là Bình Thủy và dân chúng cũng gọi luôn là Đình Bình Thủy.

Sau khi có sắc phong của nhà vua, dân địa phương đã cùng nhau cất lại đình lần thứ hai. Lần này lợp ngói phía trước đình để xây thêm một nhà võ ca (thường dùng để làm Nhà hát bộ, trong đó có một sân khấu nhỏ, thấp, bằng gỗ để cho các đoàn hát đến biểu diễn cho bà con thưởng ngoạn).

Theo cuốn "Cần Thơ xưa và nay" của tác giả Huỳnh Minh thì đình này còn thờ Trầm Hương công chúa và Huệ Cơ công chúa nhưng cũng không có sự tích. Sau này nhân dân còn đưa thêm những người có công với nước vào thờ như: Đinh Công Tráng, Nguyễn Trung Trực, Bùi Hữu Nghĩa, Võ Huy Tập...

Đầu thế kỷ XX, đình Bình Thủy được xây lại mới hoàn toàn. Nguyên vào năm 1904, quan tri phủ Nguyễn Đức Nhuận thấy đình sắp sập, đề nghị cất lại đình ở ngã tư trên sở đất của làng rộng 2,9 ha, ông La Xuân Thanh là nghiệp chủ bèn giúp đỡ tiền và chỉ huy xây dựng. Chẳng may quan tri phủ qua đời nên công việc bị đình trệ. Năm 1909 ông cả Nguyễn Doãn Cung cùng ông thông gia điền chủ đồng tán thành ý kiến xây dựng lại ngôi đình lần thứ ba cũng tại chỗ cũ (Vàm Bình Thủy) với số tiền chung là 5.823đ Đông Dương.

Công việc xây dựng được khởi công từ ngày 12 tháng 7 năm 1909 đến 1910 thì hoàn thành. Công việc xây dựng được tiến hành tốt đẹp với sự thiết kế của ông Huỳnh Trung Trinh. Khoảng đầu thế kỷ 20 (khoảng năm 1908), làng Bình Thủy được đổi tên thành làng Long Tuyền (do rạch Bình Thủy có hình tựa con Rồng nằm) và nhân dân nơi đây còn gọi là đình thần Long Tuyền hay Long Tuyền Cổ Miếu.



Đình Bình Thủy thuộc loại di tích kiến trúc tôn giáo và công trình nghệ thuật độc đáo. Nay Đình nằm trên khoảnh đất rộng hơn 4000 m². Cách kiến trúc ngôi đình này khác rất nhiều so với kiến trúc ở miền Bắc. Đình được cất trên một nền cao ráo và có chiều sâu, nhà trước và nhà sau đều là hình vuông nên chiều nào cũng có 6 hàng cột, các chân cột đều choãi ra làm cho đình càng thêm vững chắc.

Về trang trí ngoại thất, nhìn trên nóc đình, ta thấy nhà trước hai mái chồng lên nhau, nhà chánh điện sau 3 mái chồng lên nhau theo kiểu kiến trúc "thượng lầu hạ hiên". Trên nóc đình có gắn tượng hình người, hình kỳ lân, hình cá hóa rồng. Nhìn sang bên trái nóc đình có mảng trang trí bằng xi măng giữa là quyển thư (tựa như cuốn thư đình được bày trí ở các đình miền Bắc) bên cạnh đó là giỏ lam đào và bình hoa, ở bìa mái ngói dưới cùng có ốp lá xoài màu xanh đen và ống ngói cũng được bịt lại bằng sành tráng men xanh. Mặt trước nhà là các cột xi măng trang trí các hình hoa lá đắp nổi thật tinh tế với hình hoa văn trang trí bên ngoài.

Trong đình, các bàn thờ được bố trí như sau: Tại tòa tiền đường có bàn thờ Nghi Hạ, Nghi Trung đặt ở gian giữa. Nơi nhà vuông nhỏ đặt bàn thờ Nghi Thượng dùng làm lễ chính của các ngày lễ hội.



Ở tòa chính điện: chính giữa nhà là bàn thờ chính, bên trái sát vách phía ngoài là bàn thờ Hương chức Tiên Giác, phía trong là bàn thờ Hậu tiền. Đối diện ở sát vách bên phải là bàn thờ chức sắc Tiên Giác và bàn thờ Tiền Hiền. Sát vách trong cùng ở gian giữa có bàn thờ Hậu thần, hai bên là hai bàn thờ Hữu Bang và Tả Bang. Bên ngoài đình có hai miếu lớn thờ thần Nông và thần Hổ, gần cổng có hai miếu thờ thần Rừng và thần Khai kênh dẫn nước.

Trong đình còn giữ được nhiều hoành phi, câu đối chữ rất đẹp. Trong hậu cung còn thờ một con hổ nhồi bông, nghe nói xưa vùng này nhiều hổ dữ...



Đình Bình thủy là một công trình có giá trị về kiến trúc nghệ thuật. Tuy được xây dựng vào đầu thế kỷ 20 nhưng kiến trúc của đình còn giữ được nhiều yếu tố kiến trúc truyền thống của dân tộc cộng với ảnh hưởng văn hóa Hoa (nhất là những tượng người trên mái nhà). Nghệ thuật chạm khắc gỗ ở nơi đây hết sức tinh tế và sinh động mang những giá trị tinh hoa của văn hóa, văn minh sông nước miệt vườn Cần Thơ nói riêng và Miền Tây Nam Bộ nói chung trong sự giao thoa văn hóa buổi sơ khai.

Có thể nói Đình còn giữ được không khí cổ xưa, đặc trưng Nam Bộ, rực rõ, tươi mới không u trầm màu thời gian như ngoài Bắc, mang phong cách như Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt ở Sài Gòn.

Du lịch, GO! - Theo Toro - Blog Opera

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Chùa Bà Thiên Hậu (Vĩnh Châu-Sóc Trăng)


Thiên Hậu cổ miếu tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 1500m², nằm trên đường Trần Hưng Đạo, Thị xã Vĩnh Châu, cách trung tâm chợ khoảng 400m về hướng Đông – Nam, trên đường đi về xã Vĩnh Hải. Từ thành phố Sóc Trăng du khách có thể đi theo hướng tỉnh lộ 11 qua cầu Mỹ Thanh và đi thêm khoảng 18 km nữa là đến di tích.

Trước đây, Miếu được dựng với quy mô nhỏ bằng gỗ, tre, lá. Cho đến 1907 miếu được xây dựng lại khang trang bằng gạch, ngói và tồn tại cho đến ngày nay. Theo truyền khẩu, xưa kia nơi đặt miếu rất hoang vu, thanh vắng, nhà cửa dân cư thưa thớt.

Đến khi một số di dân người Hoa đến đây lập nghiệp, mang theo hình tượng nữ thần của những ngư dân và những người đi biển trong dòng họ. Để củng cố niềm tin, họ đã lập một ngôi miếu nhỏ thơ Bà với mong muốn bà phù trợ khi ra khơi đánh bắt hoặc giữ bình yên cho xóm làng, mùa màng thuận lợi.



< Chánh điện bên trong cổ miếu.

Bước chân qua cổng tường rào khang trang ta bắt gặp ngay một cặp Lân đá cao khoảng 1m ngồi trên bệ xi măng nhìn thẳng ra đường, chân trước mỗi con đặt trên một quả cầu trong tư thế đang ngồi canh giữ miếu.

Trên nóc miếu là hình tượng hai con rồng được dát bằng mảnh gốm sứ đang uốn lượn tranh một quả bầu tiên. Phía trước, hai bên bức vách của ngôi cổ miếu là hai phù điêu Thanh Long và Bạch Hổ được đắp nổi làm tăng thêm vẻ lộng lẫy ngay từ bên ngoài. Miếu được xây phân bố theo hình chữ tam, ba gian song song mái lợp ngói âm dương. Muốn vào trong điện ta phải qua một mái hiên trước có đôi cột đắp rồng uốn quanh thân, trên thanh xà dọc nối qua đầu cột các thợ người Hoa gắn hình tượng những động vật thủy sản cá tôm bằng gỗ thật khéo léo và sinh động.



< Cúng cuối năm ở chùa Bà Thiên Hậu (ngày 14/11 âm lịch).

Cửa điện gồm 3 ô theo dạng cổng tam quan, cửa chính giữa rộng gồm 2 cánh gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật Uất Trì Cung và Kính Đức. Hai cửa bên mỗi khung một cánh cũng là gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật điển tích mỗi bên. Bước vào bên trong điện, từ gian trước qua gian giữa cách một khoảng trống gọi là giếng trời có tác dụng lấy ánh sáng và làm thoáng mát không gian bên trong điện thờ. Gian đầu chỉ dựng hai bảng gỗ lớn ghi danh sách những người quyên góp trùng tu miếu, trên hai bức đầu hồi ta bắt gặp bức tranh tạc hình đắp nổi cảnh “Bát tiên quá hải” và đối diện là bức tranh đắp nổi hình hoa cảnh xinh tươi.

Gian giữa được sử dụng để đặt kim đỉnh lư hương. Gian trong cùng mới chính là nơi đặt ba khám thờ, ở giữa thờ Bà Thiên Hậu đang ngồi trên ngai có hai tiên nữ ngồi hầu hai bên, trước mặt hơi thấp hơn có 5 thần hộ vệ đứng chầu. Khám thờ bên phải đặt tượng thờ Quan Công, khám bên trái thờ các anh hùng liệt sĩ.
Trên các thanh xà ngang dưới mái ngói là các bức hoành phi sơn son thếp vàng trông thật lộng lẫy với những nội dung chúc cho quốc thái dân an, phù trợ đồng bào, đồng tâm hiệp lực làm việc ích nước lợi dân.

Trên viềm mỗi khám thờ nghệ nhân lắp phần cửa vòng trang trí hình hoa dây các loại, được thếp vàng lộng lẫy. Ngăn cách ở giữa ba khám thờ là hai bộ bát bửu bằng đồng vừa trang trí, vừa tạo lối đi riêng cho khách thập phương khi vào làm lễ.



< Nhạc lễ phục vụ cho đêm lễ hội.

Lễ hội vía Bà được tổ chức hàng năm vào ngày 23 tháng 3 âm lịch (ngày vía Bà), đây là một lễ hội lớn đối với đồng bào Hoa ở Vĩnh Châu. Trong ba ngày (22,23, 24/4 âm lịch) mọi người dâng lễ vật, khói hương để tưởng nhớ đến công ơn của Bà. Ngoài ra, trong lễ hội còn có những hoạt động khác như biểu diễn nghệ thuật hát Tiều của Đoàn Nghệ thuật Châu Quang, lễ Hội đấu đèn lồng, mặc dù giá trị vật chất không cao nhưng mua được đèn lồng là mua được: “Gia đình bình an”, “Tấn tài tấn lộc” và đó là tấm lòng “Lá lành đùm lá rách” từ Hội chùa đối với dân nghèo.



< Thiên Hậu cổ miếu nhìn từ bên ngoài.

Có thể nói, Miếu Bà Thiên Hậu hay chùa Bà Vĩnh Châu là một di tích kiến trúc độc đáo, một hình tượng tín ngưỡng đã lâu đời in sâu vào tâm trí của đồng bào người Hoa tại thị xã Vĩnh Châu. Miếu Bà là nơi họ trao gởi niềm tin vào sự phù trợ của Bà để người dân làm ăn phát đạt và gia đình luôn hòa thuận, yên ấm.

Miếu Bà Thiên Hậu vừa thể hiện được bản sắc văn hóa cội nguồn của dân tộc Hoa, vừa làm phong phú thêm đời sống tâm linh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vì vậy, Miếu Bà Thiên Hậu đã được UBND tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh vào ngày 03/6/2004.

Theo Nguyễn Dũng (Du lịch Sóc Trăng) + internet
Du lịch, GO!

Chùa Ông Bổn (Sóc Trăng)


Chùa Ông Bổn còn có tên gọi là chùa A Côn, hay Hòa An Hội Quán là một ngôi chùa cổ có tuổi đời trên 130 năm, tọa lạc số 09, đường Nguyễn Văn Trỗi, khóm 1, phường 1, TP Sóc Trăng. Đây là một di tích nghệ thuật kiến trúc - điêu khắc văn hóa độc đáo của cộng đồng người Hoa ở Sóc Trăng nói riêng và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Theo tài liệu của Ban quản trị chùa thì vào năm 1875, chùa Ông Bổn được xây dựng tại làng Khánh Hưng, tổng Nhiêu Khánh, tỉnh Sóc Trăng. Đến năm 1911 được trùng tu lần thứ nhất và đổi tên là Hòa An Hội Quán cho đến nay. Qua 7 lần trùng tu vào các năm 1953, 1969, 1987, 1990, 1994, 1999 có kiến tạo gia cố thêm, nhưng vẫn đảm bảo được hiện trạng cũ nên ngôi chùa mới khang trang như ngày nay.

Do chùa nằm trong trung tâm của tỉnh lỵ nên rất thuận tiện cho việc cúng bái, cũng như rất thuận lợi cho du khách đến tham quan dù bằng đường bộ hay đường thủy.

Chùa được cất theo hình chữ Phú - tượng trưng cho sự ấm no, phú quý. Chùa cất tuy không cao nhưng thoáng đãng, mang đậm màu sắc kiến trúc Trung Hoa. Sân chùa tuy không lớn nhưng sạch sẽ. Mái chùa lợp ngói ống phủ lớp rêu phong. Trên mái nóc có tượng lưỡng long chầu nguyệt - cách trang trí truyền thống trong các ngôi chùa Hoa. Trên các gờ mái cũng có tượng rồng, kỳ lân nằm trải dài. Phía trước mái hiên chùa có treo một dãy đèn lồng đỏ càng làm tôn vinh thêm vẻ đẹp rực rỡ của ngôi chùa.



Chùa Ông Bổn được xây dựng với chất liệu hoàn toàn bằng đá, gỗ quý từ Trung Quốc chở qua. Ngôi chùa có mặt tiền chính diện hướng về hướng Nam, hai bên tả hữu tô đá rửa được nghệ nhân đắp nổi bằng xi măng rộng khoảng một thước là hai đại tự Tăng Phước - ngụ ý chúc bà con bá tánh hưởng thêm nhiều phước lộc, tạo thêm vẻ bề thế cho ngôi chùa. Ngoài ra, ở bên hữu khuôn viên chùa còn có ngôi miếu nhỏ thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh tượng trưng cho thần thổ địa của địa phương.

Quan sát từ đỉnh hương lớn đặt giữa khuôn viên khá rộng của ngôi chùa, tổng thể kiến trúc di tích này có toàn bộ phần chân cột, đá xanh viền nền tam cấp trong khu vực nội thất đến khung cửa chính của ngôi chùa... đều được các nghệ nhân người Hoa đời trước tạc bằng đá tảng của Trung Quốc. Ngôi chùa được thợ xây dựng theo dạng phân kim tam cấp qua thước Lỗ Ban - theo hình chữ Phú - tượng trưng theo quan niệm của người Hoa.

Vào bên trong ngôi chùa, du khách sẽ choáng ngợp trước một “rừng” hoành phi câu đối bằng chữ Hán được treo và ốp cột từ gian tiền điện đến gian chính điện, với nội dung ca ngợi công đức của các vị thần. Phía bên trái (nhìn từ ngoài vào) là bàn thờ Bạch Hổ uy nghi, bên phải là bàn thờ của Thanh Long hùng dũng - đây vừa là yếu tố phong thủy, lại vừa là vật linh nhằm để trấn giữ tà ma, xua đi những điều xui xẻo, không hên. Gian chính điện gồm ba gian. Gian chính giữa thờ Trịnh Ân, tức Cảm thiên đại đế là vị phúc thần trong tâm thức của bà con người Hoa nơi đây.

Khác biệt với chùa Ông Bổn (Thanh Minh Cổ Miếu) tại thị xã Vĩnh Châu thờ ông Trịnh Hòa - vị quan triều Minh (thế kỷ 14, tương truyền ông là nhà hàng hải đã bôn ba buôn bán sản vật ở nhiều nước trên thế giới, ông được phong sắc thần “Bổn đầu công” được dân chúng sùng kính tôn thờ) thì chùa Ông Bổn ở Sóc Trăng thờ ông Trịnh Ân.

Tương truyền, Trịnh Ân là vị khai quốc công thần, văn võ song toàn, sống vào triều đại nhà Tống bên Trung Quốc. Ông có nhiều công lớn trong việc dạy dân bền chí làm ăn để khẩn hoang, lập ấp và khuyên mọi người phải biết giữ lễ nghĩa, giữ vẹn thuần phong mỹ tục. Do bị gian thần hãm hại nên ông bị triều đình khép vào tội chết. Lúc xử trảm ông, đất trời cảm động trút cơn mưa, điểm vần sắc hồng. Dân chúng thấy điềm trời như thế nên càng tỏ lòng thương tiếc và lập miếu thờ ông làm vị phúc thần. Chuyện này lan đến triều đình, làm vua tỉnh ngộ, thương cảm và phong sắc cho ông là Cảm thiên đại đế, tức lòng trung cảm động đến trời.

Bên trái gian chính điện là bàn thờ của Phúc Đức Chính Thần, bên phải là trang thờ của Thiên Hậu Thánh Mẫu. Trước gian chính điện còn có hai hàng bát bửu hai bên. Đặc biệt nét điêu khắc trong chùa đã đạt đến mức điêu luyện, thể hiện được nét tinh xảo, tài hoa của các nghệ nhân Trung Quốc đời trước. Tiêu biểu, các bức điêu khắc gỗ, hoành phi chạm trổ ba lớp, tượng thờ bằng gỗ, câu đối bằng gỗ quý, các tượng gỗ chạm trổ các linh vật: long, lân, quy, phụng, nai, hạc... đều thể hiện các điển tích cao quý mà các vua chúa ngày xưa thường dùng trang trí trong cung đình, như: lân hóa rồng, rồng hóa long dây lá, Bá Ngư chầu hoàng, Bá Ngư Điểu Chích... tất cả đều là các tác phẩm điêu khắc, hội họa đặc biệt quý hiếm thể hiện đúng theo khuôn mẫu bên Trung Quốc.

Ngoài ra, trong chùa còn có nhiều cổ vật quý hiếm khác là tượng gỗ thờ Ông Bổn, Ông Phước Đức, Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, sơn son thiếp vàng rực rỡ; bộ lư quỳ cổ hình thái tuế, ba bộ lư vuông, cặp hạc rùa ngậm hoa sen bằng kim loại màu... các bộ bàn thờ (quý tự) bằng gỗ quý đều được các nghệ nhân chạm khắc ba lớp và dát vàng rất tinh xảo.



Chùa Ông Bổn ở Sóc Trăng không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa ở đây, mà còn là nơi thu hút đông đảo bà con người Kinh, người Khmer cũng như khách thập phương đến đây tham quan cúng bái trong các dịp rằm, lễ tết, ngày vía Ông...

Bên cạnh đó, chùa Ông Bổn còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội đặc sắc của bà con người Hoa và thông qua đó đã tập hợp, đoàn kết mọi người cùng nhau đóng góp, gây quỹ làm công tác từ thiện... thể hiện truyền thống đoàn kết lâu đời của bà con người Hoa và các dân tộc Kinh, Khmer anh em.
Với những ý nghĩa trên, ngày 3-6-2004, chùa Ông Bổn đã được UBND tỉnh Sóc Trăng xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

Du lịch, GO! - Theo Trần Kiều Quang (báo Hậu Giang), ảnh sưu tầm từ internet

Bài đăng phổ biến