Hiển thị các bài đăng có nhãn Sóc Trăng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sóc Trăng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Chùa Bà Thiên Hậu (Vĩnh Châu-Sóc Trăng)


Thiên Hậu cổ miếu tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 1500m², nằm trên đường Trần Hưng Đạo, Thị xã Vĩnh Châu, cách trung tâm chợ khoảng 400m về hướng Đông – Nam, trên đường đi về xã Vĩnh Hải. Từ thành phố Sóc Trăng du khách có thể đi theo hướng tỉnh lộ 11 qua cầu Mỹ Thanh và đi thêm khoảng 18 km nữa là đến di tích.

Trước đây, Miếu được dựng với quy mô nhỏ bằng gỗ, tre, lá. Cho đến 1907 miếu được xây dựng lại khang trang bằng gạch, ngói và tồn tại cho đến ngày nay. Theo truyền khẩu, xưa kia nơi đặt miếu rất hoang vu, thanh vắng, nhà cửa dân cư thưa thớt.

Đến khi một số di dân người Hoa đến đây lập nghiệp, mang theo hình tượng nữ thần của những ngư dân và những người đi biển trong dòng họ. Để củng cố niềm tin, họ đã lập một ngôi miếu nhỏ thơ Bà với mong muốn bà phù trợ khi ra khơi đánh bắt hoặc giữ bình yên cho xóm làng, mùa màng thuận lợi.



< Chánh điện bên trong cổ miếu.

Bước chân qua cổng tường rào khang trang ta bắt gặp ngay một cặp Lân đá cao khoảng 1m ngồi trên bệ xi măng nhìn thẳng ra đường, chân trước mỗi con đặt trên một quả cầu trong tư thế đang ngồi canh giữ miếu.

Trên nóc miếu là hình tượng hai con rồng được dát bằng mảnh gốm sứ đang uốn lượn tranh một quả bầu tiên. Phía trước, hai bên bức vách của ngôi cổ miếu là hai phù điêu Thanh Long và Bạch Hổ được đắp nổi làm tăng thêm vẻ lộng lẫy ngay từ bên ngoài. Miếu được xây phân bố theo hình chữ tam, ba gian song song mái lợp ngói âm dương. Muốn vào trong điện ta phải qua một mái hiên trước có đôi cột đắp rồng uốn quanh thân, trên thanh xà dọc nối qua đầu cột các thợ người Hoa gắn hình tượng những động vật thủy sản cá tôm bằng gỗ thật khéo léo và sinh động.



< Cúng cuối năm ở chùa Bà Thiên Hậu (ngày 14/11 âm lịch).

Cửa điện gồm 3 ô theo dạng cổng tam quan, cửa chính giữa rộng gồm 2 cánh gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật Uất Trì Cung và Kính Đức. Hai cửa bên mỗi khung một cánh cũng là gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật điển tích mỗi bên. Bước vào bên trong điện, từ gian trước qua gian giữa cách một khoảng trống gọi là giếng trời có tác dụng lấy ánh sáng và làm thoáng mát không gian bên trong điện thờ. Gian đầu chỉ dựng hai bảng gỗ lớn ghi danh sách những người quyên góp trùng tu miếu, trên hai bức đầu hồi ta bắt gặp bức tranh tạc hình đắp nổi cảnh “Bát tiên quá hải” và đối diện là bức tranh đắp nổi hình hoa cảnh xinh tươi.

Gian giữa được sử dụng để đặt kim đỉnh lư hương. Gian trong cùng mới chính là nơi đặt ba khám thờ, ở giữa thờ Bà Thiên Hậu đang ngồi trên ngai có hai tiên nữ ngồi hầu hai bên, trước mặt hơi thấp hơn có 5 thần hộ vệ đứng chầu. Khám thờ bên phải đặt tượng thờ Quan Công, khám bên trái thờ các anh hùng liệt sĩ.
Trên các thanh xà ngang dưới mái ngói là các bức hoành phi sơn son thếp vàng trông thật lộng lẫy với những nội dung chúc cho quốc thái dân an, phù trợ đồng bào, đồng tâm hiệp lực làm việc ích nước lợi dân.

Trên viềm mỗi khám thờ nghệ nhân lắp phần cửa vòng trang trí hình hoa dây các loại, được thếp vàng lộng lẫy. Ngăn cách ở giữa ba khám thờ là hai bộ bát bửu bằng đồng vừa trang trí, vừa tạo lối đi riêng cho khách thập phương khi vào làm lễ.



< Nhạc lễ phục vụ cho đêm lễ hội.

Lễ hội vía Bà được tổ chức hàng năm vào ngày 23 tháng 3 âm lịch (ngày vía Bà), đây là một lễ hội lớn đối với đồng bào Hoa ở Vĩnh Châu. Trong ba ngày (22,23, 24/4 âm lịch) mọi người dâng lễ vật, khói hương để tưởng nhớ đến công ơn của Bà. Ngoài ra, trong lễ hội còn có những hoạt động khác như biểu diễn nghệ thuật hát Tiều của Đoàn Nghệ thuật Châu Quang, lễ Hội đấu đèn lồng, mặc dù giá trị vật chất không cao nhưng mua được đèn lồng là mua được: “Gia đình bình an”, “Tấn tài tấn lộc” và đó là tấm lòng “Lá lành đùm lá rách” từ Hội chùa đối với dân nghèo.



< Thiên Hậu cổ miếu nhìn từ bên ngoài.

Có thể nói, Miếu Bà Thiên Hậu hay chùa Bà Vĩnh Châu là một di tích kiến trúc độc đáo, một hình tượng tín ngưỡng đã lâu đời in sâu vào tâm trí của đồng bào người Hoa tại thị xã Vĩnh Châu. Miếu Bà là nơi họ trao gởi niềm tin vào sự phù trợ của Bà để người dân làm ăn phát đạt và gia đình luôn hòa thuận, yên ấm.

Miếu Bà Thiên Hậu vừa thể hiện được bản sắc văn hóa cội nguồn của dân tộc Hoa, vừa làm phong phú thêm đời sống tâm linh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vì vậy, Miếu Bà Thiên Hậu đã được UBND tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh vào ngày 03/6/2004.

Theo Nguyễn Dũng (Du lịch Sóc Trăng) + internet
Du lịch, GO!

Chùa Ông Bổn (Sóc Trăng)


Chùa Ông Bổn còn có tên gọi là chùa A Côn, hay Hòa An Hội Quán là một ngôi chùa cổ có tuổi đời trên 130 năm, tọa lạc số 09, đường Nguyễn Văn Trỗi, khóm 1, phường 1, TP Sóc Trăng. Đây là một di tích nghệ thuật kiến trúc - điêu khắc văn hóa độc đáo của cộng đồng người Hoa ở Sóc Trăng nói riêng và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Theo tài liệu của Ban quản trị chùa thì vào năm 1875, chùa Ông Bổn được xây dựng tại làng Khánh Hưng, tổng Nhiêu Khánh, tỉnh Sóc Trăng. Đến năm 1911 được trùng tu lần thứ nhất và đổi tên là Hòa An Hội Quán cho đến nay. Qua 7 lần trùng tu vào các năm 1953, 1969, 1987, 1990, 1994, 1999 có kiến tạo gia cố thêm, nhưng vẫn đảm bảo được hiện trạng cũ nên ngôi chùa mới khang trang như ngày nay.

Do chùa nằm trong trung tâm của tỉnh lỵ nên rất thuận tiện cho việc cúng bái, cũng như rất thuận lợi cho du khách đến tham quan dù bằng đường bộ hay đường thủy.

Chùa được cất theo hình chữ Phú - tượng trưng cho sự ấm no, phú quý. Chùa cất tuy không cao nhưng thoáng đãng, mang đậm màu sắc kiến trúc Trung Hoa. Sân chùa tuy không lớn nhưng sạch sẽ. Mái chùa lợp ngói ống phủ lớp rêu phong. Trên mái nóc có tượng lưỡng long chầu nguyệt - cách trang trí truyền thống trong các ngôi chùa Hoa. Trên các gờ mái cũng có tượng rồng, kỳ lân nằm trải dài. Phía trước mái hiên chùa có treo một dãy đèn lồng đỏ càng làm tôn vinh thêm vẻ đẹp rực rỡ của ngôi chùa.



Chùa Ông Bổn được xây dựng với chất liệu hoàn toàn bằng đá, gỗ quý từ Trung Quốc chở qua. Ngôi chùa có mặt tiền chính diện hướng về hướng Nam, hai bên tả hữu tô đá rửa được nghệ nhân đắp nổi bằng xi măng rộng khoảng một thước là hai đại tự Tăng Phước - ngụ ý chúc bà con bá tánh hưởng thêm nhiều phước lộc, tạo thêm vẻ bề thế cho ngôi chùa. Ngoài ra, ở bên hữu khuôn viên chùa còn có ngôi miếu nhỏ thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh tượng trưng cho thần thổ địa của địa phương.

Quan sát từ đỉnh hương lớn đặt giữa khuôn viên khá rộng của ngôi chùa, tổng thể kiến trúc di tích này có toàn bộ phần chân cột, đá xanh viền nền tam cấp trong khu vực nội thất đến khung cửa chính của ngôi chùa... đều được các nghệ nhân người Hoa đời trước tạc bằng đá tảng của Trung Quốc. Ngôi chùa được thợ xây dựng theo dạng phân kim tam cấp qua thước Lỗ Ban - theo hình chữ Phú - tượng trưng theo quan niệm của người Hoa.

Vào bên trong ngôi chùa, du khách sẽ choáng ngợp trước một “rừng” hoành phi câu đối bằng chữ Hán được treo và ốp cột từ gian tiền điện đến gian chính điện, với nội dung ca ngợi công đức của các vị thần. Phía bên trái (nhìn từ ngoài vào) là bàn thờ Bạch Hổ uy nghi, bên phải là bàn thờ của Thanh Long hùng dũng - đây vừa là yếu tố phong thủy, lại vừa là vật linh nhằm để trấn giữ tà ma, xua đi những điều xui xẻo, không hên. Gian chính điện gồm ba gian. Gian chính giữa thờ Trịnh Ân, tức Cảm thiên đại đế là vị phúc thần trong tâm thức của bà con người Hoa nơi đây.

Khác biệt với chùa Ông Bổn (Thanh Minh Cổ Miếu) tại thị xã Vĩnh Châu thờ ông Trịnh Hòa - vị quan triều Minh (thế kỷ 14, tương truyền ông là nhà hàng hải đã bôn ba buôn bán sản vật ở nhiều nước trên thế giới, ông được phong sắc thần “Bổn đầu công” được dân chúng sùng kính tôn thờ) thì chùa Ông Bổn ở Sóc Trăng thờ ông Trịnh Ân.

Tương truyền, Trịnh Ân là vị khai quốc công thần, văn võ song toàn, sống vào triều đại nhà Tống bên Trung Quốc. Ông có nhiều công lớn trong việc dạy dân bền chí làm ăn để khẩn hoang, lập ấp và khuyên mọi người phải biết giữ lễ nghĩa, giữ vẹn thuần phong mỹ tục. Do bị gian thần hãm hại nên ông bị triều đình khép vào tội chết. Lúc xử trảm ông, đất trời cảm động trút cơn mưa, điểm vần sắc hồng. Dân chúng thấy điềm trời như thế nên càng tỏ lòng thương tiếc và lập miếu thờ ông làm vị phúc thần. Chuyện này lan đến triều đình, làm vua tỉnh ngộ, thương cảm và phong sắc cho ông là Cảm thiên đại đế, tức lòng trung cảm động đến trời.

Bên trái gian chính điện là bàn thờ của Phúc Đức Chính Thần, bên phải là trang thờ của Thiên Hậu Thánh Mẫu. Trước gian chính điện còn có hai hàng bát bửu hai bên. Đặc biệt nét điêu khắc trong chùa đã đạt đến mức điêu luyện, thể hiện được nét tinh xảo, tài hoa của các nghệ nhân Trung Quốc đời trước. Tiêu biểu, các bức điêu khắc gỗ, hoành phi chạm trổ ba lớp, tượng thờ bằng gỗ, câu đối bằng gỗ quý, các tượng gỗ chạm trổ các linh vật: long, lân, quy, phụng, nai, hạc... đều thể hiện các điển tích cao quý mà các vua chúa ngày xưa thường dùng trang trí trong cung đình, như: lân hóa rồng, rồng hóa long dây lá, Bá Ngư chầu hoàng, Bá Ngư Điểu Chích... tất cả đều là các tác phẩm điêu khắc, hội họa đặc biệt quý hiếm thể hiện đúng theo khuôn mẫu bên Trung Quốc.

Ngoài ra, trong chùa còn có nhiều cổ vật quý hiếm khác là tượng gỗ thờ Ông Bổn, Ông Phước Đức, Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, sơn son thiếp vàng rực rỡ; bộ lư quỳ cổ hình thái tuế, ba bộ lư vuông, cặp hạc rùa ngậm hoa sen bằng kim loại màu... các bộ bàn thờ (quý tự) bằng gỗ quý đều được các nghệ nhân chạm khắc ba lớp và dát vàng rất tinh xảo.



Chùa Ông Bổn ở Sóc Trăng không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa ở đây, mà còn là nơi thu hút đông đảo bà con người Kinh, người Khmer cũng như khách thập phương đến đây tham quan cúng bái trong các dịp rằm, lễ tết, ngày vía Ông...

Bên cạnh đó, chùa Ông Bổn còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội đặc sắc của bà con người Hoa và thông qua đó đã tập hợp, đoàn kết mọi người cùng nhau đóng góp, gây quỹ làm công tác từ thiện... thể hiện truyền thống đoàn kết lâu đời của bà con người Hoa và các dân tộc Kinh, Khmer anh em.
Với những ý nghĩa trên, ngày 3-6-2004, chùa Ông Bổn đã được UBND tỉnh Sóc Trăng xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

Du lịch, GO! - Theo Trần Kiều Quang (báo Hậu Giang), ảnh sưu tầm từ internet

Chùa Chén Kiểu (Sóc Trăng)


Du khách đến tham quan thành phố Sóc Trăng (tỉnh Sóc Trăng) đều tìm đến viếng ba ngôi chùa nổi tiếng là điểm đến du lịch, gồm chùa Dơi, chùa Đất Sét và chùa Sà Lôn. Chùa Sà Lôn (còn có tên gọi là chùa Chén Kiểu) là ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo tiểu thừa (Nam tông), thuộc xã Đại Tâm (huyện Mỹ Xuyên), cách thành phố Sóc Trăng hơn 10 cây số bên quốc lộ 1 hướng đi Bạc Liêu.

Nguyên tiếng Khmer của chùa Sà Lôn là Wath Sro Loun, hay Wath Chro Luong, bắt nguồn từ tên con rạch Chro Luong chạy dọc theo đường làng Xoài Cả Nả (*), trước chùa. Từ tên Wath Sro Loun người ta gọi gọn còn Sro Loun, nhưng để dễ phát âm và dễ nhớ, người ta gọi trại theo tiếng Việt là Sà Lôn.


< Chùa Chén Kiểu ở Sóc Trăng.

Chùa Sà Lôn tọa lạc trong khuôn viên rộng lớn với những hàng cây sao dầu thẳng tắp vút ngọn lên trời xanh. Chùa Sà Lôn được xây dựng vào năm 1815 với vật liệu và kiến trúc đơn sơ. Về sau, chùa được tu bổ vài lần, đặc biệt, khi bị hư hại nặng vì chiến tranh, chùa Sà Lôn mới được dần xây dựng kiên cố, bắt đầu từ năm 1969.

Nói dần xây dựng là vì chùa được xây dựng nhiều đợt, có tiền “con sóc” (Phật tử trong sóc) cúng dường tới đâu thì xây tới đó. Chính vì vấn đề tài chánh một phần, nên vào năm 1980, khi xây xong phần thô, người ta đã nghĩ ra sáng kiến dùng miểng chén dĩa kiểu hư, bể do con sóc gom lại gắn lên trang trí tường, thay vì tô trát và sơn màu. Từ đó tên chùa Sà Lôn dần được gọi là chùa Chén Kiểu.


< Tường xây gạch được ốp mảnh vỡ chén, đĩa sứ.

Cổng chùa Chén Kiểu có hai con sư tử đá trên bệ cao hướng ra lộ. Trên cổng xây ba ngôi tháp trang trí theo kiến trúc truyền thống của người Khmer Nam bộ. Tháp chính ở giữa, bên trong lồng pho tượng Phật tọa thiền uy nghi. Hai tháp hai bên thấp hơn tháp chính. Thành cổng có dòng chữ tên chùa Sà Lôn bằng chữ Khmer và chữ Việt.

Chánh điện nằm bên trái cổng vào. Chánh điện có ba mái hình chóp. Mái cao nhất hình tam giác, hai đầu đao mỗi bên cong vút như vành trăng khuyết. Mái chánh điện được trang trí nhiều họa tiết màu sắc đẹp mắt. Tường rào và tường chánh điện dán gạch men nhiều màu đẹp đẽ. Chánh điện nằm trên 2 lần nền với 2 bậc cấp. Hai bên đầu bậc cấp nền chính có hai cột đá hình vuông. Đầu mỗi cột đá có tượng đá kỳ lân. Mặt chính và mặt hông mỗi cột đá đều có khắc hai hàng chữ Hán. Nền chánh điện lót gạch bông.


< Bộ bàn ghế cẩm thạch của Công tử Bạc Liêu và chân dung Công tử Bạc Liêu trên tường.

Trong chánh điện thờ chính Phật Thích Ca, còn có một số tượng Phật nhiều kích cỡ với nhiều tư thế. Tất cả đều nhìn về hướng đông, nhằm ban ơn phúc cho phật tử. Mái chánh điện được chống đỡ bằng 16 hàng cột lớn, ốp gạch men sáng bóng. Hai bên tường chánh điện là những bích họa miêu tả Phật tích.

Trước chánh điện, cách con đường, là cột cờ với hình tượng Rắn thần Nagar xòe 5 đầu, nhắc điển tích Rắn thần che mưa cho Phật Thích Ca khi ngài tọa thiền. Bao quanh cột cờ là hồ sen. Ngoài ra, chùa còn có một tượng Phật nằm khổng lồ... Chùa Sà Lôn đuợc công nhận di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh vào năm 2012.


< Chiếc giường mùa nóng, làm bằng gỗ giáng hương, mặt giường lót cẩm thạch.

Chùa Sà Lôn, hay chùa Chén Kiểu, là nét văn hóa kiến trúc độc đáo của đồng bào Khmer Đại Tâm, và cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nét độc đáo khác là vào cổng chùa, bên phải có một dãy nhà ngang, hai tầng. Tầng trên, có hai căn phòng, là nơi lưu giữ một số đồ gỗ của “Công tử Bạc Liêu”, Trần Trinh Huy (1900-1974). Ông Trần Văn Hai, 62 tuổi, là thư ký của ban quản lý chùa, cho biết chùa đã có vài lần mua lại một số đồ gia dụng của gia đình điền chủ giàu có xứ Bạc Liêu. Tất cả cổ vật nầy đều được chạm trổ, cẩn xà cừ tỉ mỉ, có thể nói là những tác phẩm chạm khắc gỗ quý.



< Chiếc giường mùa đông của Công tử Bạc Liêu, làm bằng gỗ lệ chi (cây vải).

Lần thứ nhất vào năm 1948, nhà chùa mua bộ bàn tròn, mặt cẩm thạch nguyên miếng, giá 1.200 đồng. Năm 1952 mua thêm bộ bàn dài, gỗ đỏ nguyên miếng (1,3m x 2,0m), giá 4.000 đồng. Năm 1956, mua chiếc giường nóng (mùa hè), làm bằng gỗ giáng hương, giá 9.500 đồng. Năm 1960, mua chiếc giường lạnh (mùa đông), làm bằng gỗ lệ chi (cây vải), giá 5.000 đồng. Tổng cộng bốn cổ vật nầy là 19.700 đồng. Ông Hai cho biết, tiền thời ấy, 1 đồng mua được 24 giạ lúa.

(*) “Xoài Cả Nả, tên gọi làm vậy vì xóm nầy khi xưa có trồng rất nhiều xoài và ai ai khi đến đây khi trở về nhà đều mang theo cả giỏ, cả nả xoài. Tiếng Thổ gọi làng nầy là Xài Chụm (Xoai Chrum) phiên âm ra Việt ngữ đời Minh Mạng là làng Tài Sum, về sau hai làng kế cận Tài Sum và Trà Tâm (Xà Tim) sát nhập lại và lấy tên mới là Đại Tâm như ngày nay đã biết” (Theo “Tuyển tập Vương Hồng Sển”, NXB Văn Học, 2002).

Theo Cát Lộc (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Chùa Kh'Leng (Sóc Trăng)


Khleang là một trong những ngôi chùa Khmer cổ nhất ở Sóc Trăng được xây dựng vào giữa thế kỷ 16.
Chùa Kh'Leang tọa lạc trên một khuôn viên rộng 3.825m2, được xây dựng từ năm 1533. Lúc đầu chỉ là ngôi chùa lợp lá sau nhiều lần trùng tu được xây cất bằng gạch ngói. Kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu cách đây hơn 80 năm.
Sóc Trăng là vùng đất có nhiều chùa chiền, gần như là tỉnh có nhiều ngôi chùa nhất của Đồng bằng sông Cửu Long, hầu hết là chùa với lối kiến trúc mang đậm phong cách Khmer Nam Bộ. Chỉ riêng ở khu vực thành phố Sóc Trăng đã có hơn 20 ngôi chùa. Chùa với đồng bào Khmer mang ý nghĩa rất thiêng liêng. Ngôi chùa, ngoài việc dùng để cử hành các nghi lễ tôn giáo, còn là nơi lưu giữ các giáo lý nhà Phật; các tác phẩm văn học nghệ thuật; là nơi diễn ra các lễ hội mang tính văn hóa đặc trưng của dân tộc Khmer.



Chùa Kh'leang là một trong những chùa Khmer cổ kính và đẹp nổi tiếng ở Sóc Trăng. Vị trí chùa ngay trung tâm thị xã, bên bờ sông Trăng thơ mộng chia đôi thị xã, trong một khuôn viên rộng lớn, được bao bọc bằng hàng rào, với cổng ra vào được trang trí những hoa văn cổ truyền Khmer, dưới những tán cổ thụ mát rượi. Dulichgo

Theo truyền thuyết, Khleang được cho là một trong những chùa đầu tiên được xây dựng đầu tiên trong vùng, khoảng năm 1532; khi ấy Sóc Trăng hãy còn là vùng đất hoang vu, chưa được khai phá, dân cư rất thưa thớt, còn cách xa sự can thiệp của các vương triều cai trị.



Ban đầu chùa được xây dựng bằng nguồn vật liệu tại chỗ như tre, gỗ, lá, từ nguồn đóng góp tự nguyện của các lưu dân trong vùng. Những chứng tích của buổi đầu thành lập đã không còn nữa. Toàn bộ kiến trúc hiện tại của chùa được dựng mới lại từ những năm cuối Đệ nhất thế chiến.

Như nhiều ngôi chùa Khmer trong vùng, chùa Khleang, ngoài chính điện giữa vai trò trung tâm, còn có các kiến trúc phụ khác như Sa-la (nhà hội của các vị sư sãi và tín đồ, là tín đồ nơi dâng cơm cho các sư vào các dịp lễ), nhà ở của sư trụ trì (cũng là nơi lưu trữ kinh kệ, sách báo và tài liệu của chùa), nhà ở của các vị sư (am), các tháp chứa cốt, nhà khách, v.v... 



Đặc biệt trong khuôn viên chùa còn có cả một ngôi trường dạy tiếng Khmer bậc trung cấp. Đẹp nhất, uy nghi nhất trong số đó là ngôi chính điện, được xây dựng mới lại năm 1918, chiều dài 24m, chiều rộng 13m, dựng trên nền cao hơn mặt đất khoảng 2m. Dulichgo

Cấu tạo nền kiểu bậc tam cấp, độ rộng mỗi bậc bậc từ 4 - 7m và cao khoảng 1m; giữa các bậc có hàng rào bao xung quanh, có 4 cổng được trang trí hoa văn rực rỡ màu sắc. Bậc ba là mặt bằng của chính điện, cách vách chính điện khoảng 1,5m. Các bậc này tạo thành các sân nội bộ, là nơi sanh hoạt của các tín đồ vào những dịp lễ chùa.



Bộ mái chùa được xây dựng theo hình thức tam cấp và mỗi cấp lại có 3 nếp. Nếp giữa lớn hơn nếp phụ ở hai bên và không có tháp nóc chùa. Các góc mái chùa được đắp hình đuôi rắn cong vút.

Yeak (Chằn) trong các chuyện cổ Khmer là nhân vật tượng trưng cho cái Ác. Yeak có dáng vẻ của một người mang bộ mặt dữ tợn, miệng to, răng nanh dài, mắt lồi, lông mày xếch, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ nhọn và tay cầm cái chày dài. Trong văn hóa Khmer, Yeak đã được đức Phật cải hóa và đặt đứng hai bên bậc thềm ở phía trước chánh điện để bảo vệ ngôi chùa



Krud hay Garuda là hình tượng một loại chim thần có mình người; đầu, chân và hai cánh của chim, mỏ ngậm một viên hồng ngọc. Hình tượng Krud được án ngữ ở chỗ tiếp giáp đầu cột với đuôi mái chùa để trấn át con rắn ở trên mái chùa.

Là ngôi chùa của Phật giáo Nam tông Kh'mer nhưng phong cách kiến trúc - điêu khắc không chỉ thuần Kh'mer mà còn là sự kết hợp của văn hóa Hoa và Việt thể hiện bằng các dòng Hán tự được khắc trên thân các cây cột trong ngôi chánh điện và bao lam lại thể hiện phong cách và họa tiết VN.

Ngoài "tam cấp" ở nền, mái chùa cũng được thiết kế theo kiểu tam cấp rất độc đáo, với mái có các chỏm nhọn, độ dốc cao, có gắn các phù điều chim thú trong sự tích Phật giáo. Toàn bộ khối chính điện được dựng bởi 60 cột trụ, chia làm 6 hàng, mỗi cột đều có hoa văn viền ở phần đầu và chân cột chạm hình hoa sen, ở giữa là phần gỗ sơ mài vẽ hình rồng hoa lá bằng nhũ vàng theo mô-típ Trung Hoa. Dulichgo

Khách tham quan, sau khi qua cổng chùa, tiến vào khuôn viên rợp bóng những cây cổ thụ, nhiều nhất là cây thốt nốt, có thể thấy quần thể kiến trúc chính điện nổi bật giữa khuôn viên chùa. Phía trước chính điện là 2 tòa tháp chứa di cốt của các vị trụ trì. Để lên chính điện, khách phải vượt qua các cổng của từng bậc thềm - nơi có các tượng thần giữ cửa. Các tượng này được chế tác dựa theo truyền thuyết Khmer, được phục sức lối Khmer cổ với các hoa văn hình vuông, tròn, chữ nhật, thoi, tam giác,...



Kế tiếp là đến cửa ra vào chính điện. Các cửa này được làm bằng gỗ - nguyên thân gỗ xẻ, khắc cảnh giao đấu giữa hai nhân vật thiện – ác trên nền khung được trang trí hoa văn đến từng chi tiết, với bố cục gọn gàng, đường nét uyển chuyển, uốn lượn, thể hiện trình độ chạm khắc gỗ cao của các nghệ nhân. Bên trong chính điện, bệ thờ và nơi đặt các tượng ở hai gian trong cùng.

Chùa có khoảng 45 tượng Phật Thích Ca làm từ nhiều chất liệu như ciment, gỗ, đồng, đá trắng, đất nung,... hầu hết được chạm trổ, sơn son thiếp vàng. Giữa chính điện là tượng Phật thích ca ngồi thiền định trên đài sen cao 6,8m được trang trí nhiều tầng hoa văn hình cánh sen và lửa; mé trái là bức cửa võng bằng gỗ sơn son thiếp vàng trang trí đầy hoa văn hình chim muông hoa lá theo mô típ quen thuộc của người Kinh. Trần chính điện được trang trí các bức tranh sơn dầu vẽ hình tiên nữ đang múa trên bầu trời càng làm tăng thêm phần sinh động cho gian bên trong chính điện...



Với đường nét kiến trúc cân xứng, hài hòa, gắn liền với những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, đa dạng và hầu hết đều thể hiện được những nét đặc trưng trong nghệ thuật truyền thống của người Khmer, chính điện chùa Khleang thực sự là công trình có giá trị về mặt nghệ thuật và thẩm mỹ. Giữa các mẫu trang trí nghệ thuật Khmer, ta còn bắt gặp tác phẩm của người Kinh ở bức cửa võng và của người Hoa trên các thân cột trụ. Điều này phản ánh sự giao thoa văn hóa giữa 3 dân tộc, trong quá trình cộng cư lâu dài đã kết hợp các yếu tố tinh hoa trong nghệ thuật, học hỏi lẫn nhau để cùng phát triển.

Nhờ đó, chùa Khleang được Bộ Văn Hóa – Thông tin công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và là điểm tham quan hấp dẫn của cư dân trong vùng cũng như du khách gần xa.

Du lịch, GO!

Bài đăng phổ biến