Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

Về nơi di tích lẫn trong di tích

(TTCT) - Dấu ấn mang phong cách Bình Định trên vùng đất hai vua nằm ngay quần thể di tích thành Hoàng Đế ở thị xã An Nhơn. Dấu tích xưa còn phảng phất trên những lối mòn lọc cọc xe ngựa, quanh đầm sen, trầm tích những ngôi chùa, ngọn tháp.

< Cổng chùa Thập Tháp.

Thế kỷ 10, Chiêm Thành chọn vùng đất này xây thành Đồ Bàn, đến khoảng thế kỷ 12 xây tháp Cánh Tiên. Thế kỷ 18 hoàng đế Nguyễn Nhạc chọn nền cũ Đồ Bàn xây thành Hoàng Đế. Xung quanh là quần thể tháp xưa cổ kính, đặc biệt là ngôi chùa Thập Tháp cách thành cũ khoảng vài trăm mét.

Di tích chen di tích

Tất cả đều là di tích quốc gia, di tích nằm trong di tích. Nhiều nhà khảo cổ học đến đây cũng ngỡ ngàng vì sự phong phú này. Khách đến đây như lạc vào những vết son sử hào hùng, chiêm bái thành tựu văn hóa cổ xưa để kính cẩn nghiêng mình, để niềm tự hào lan tỏa.

< Xe ngựa vẫn còn chạy trên kinh đô xưa.

Từ bến Xe Ngựa, du khách có thể ngồi trên chiếc xe ngựa lọc cọc, bồng bềnh bước vào một thời quá vãng để được nghe giai thoại về hạt lúa thần khổng lồ, về công chúa Huyền Trân, về chiến công lẫy lừng của các anh hùng sinh ra trên mảnh đất địa linh. Vẫn còn đó con đường làng quanh co dưới lũy tre cỗi già ông bà xưa dùng đánh giặc, giữ làng.

Tháp Cánh Tiên là sự hiện hữu một nét kiến trúc độc đáo nhất trong quần thể tháp Chăm. Có người nghi ngờ rằng đây là tháp Chế Mân xây riêng tặng công chúa Huyền Trân vì trong tháp có những hình chạm khắc công phu mang dáng dấp một mỹ nữ.

Vút lên trời cao ngọn tháp đứng trong một không gian thoáng đãng, cứ tưởng dang tay ra là ôm hết bầu trời. Không biết vị trí này đắc địa như thế nào mà trong nhiều thế kỷ, các vương quốc, các vị hoàng đế lại chọn xây thành kiên cố trị vì đất nước, nhiều thiền sư dừng chân trên đường truyền đạo.

< Điện bát giác tại thành Đồ Bàn.

Bình Định xưa nay được mệnh danh là đất võ - trời văn, kiến tạo văn hóa, quần tụ linh khí địa linh nhân kiệt thì nơi này chính là hạt nhân, nơi khởi nguồn của những khởi nguồn ở Bình Định.

Quần thể di tích chồng lấp lên nhau là lăng Võ Tánh được xây trên nền thành Hoàng Đế, thành Hoàng Đế thì lấy nền móng thành Đồ Bàn. Hiện các nhà khảo cổ đang khai quật và tìm thấy dấu vết của một tử cấm thành kinh đô xưa. Cổng lăng, song trung miếu, điện bát giác, hồ bán nguyệt, hậu cung... vẫn còn chứng giám trầm tích lịch sử một thời vang bóng.

Non nước hữu tình

< Tháp Cánh Tiên, di tích trong di tích thành Hoàng Đế.

Nếu du khách hiểu biết về lịch sử, về vương quốc Champa, về thời Tây Sơn, chùa chiền thì bước chân chắc chắn bị níu lại nhiều ngày. Có người cho rằng đây là nơi hội ngộ lịch sử. Đổi châu Ô và châu Rí lấy công chúa Huyền Trân và cuộc chiến với nhà Trần của Champa; cuộc chiến nhà Tây Sơn với hơn 20 vạn quân Thanh, Rạch Gầm - Xoài Mút với quân Xiêm và với nhà Nguyễn...

Đứng ở thành nhìn rõ tháp Cánh Tiên, đứng ở tháp Cánh Tiên nhìn thấy chùa Thập Tháp, đứng ở chùa Thập Tháp nhìn thấy núi Mò O. Nhìn từ phía chùa, núi Mò O (hay còn gọi là Thiên Bút, Ma Ha, Tiên Tỉnh Sơn, Mạ Thiên Sơn...) như một cánh buồm căng gió hướng ra biển Đông. Truyền thuyết kể rằng trên núi có nhiều mỏm đá giương ra phía Bắc hứng gió ngàn năm để biến thành kim cương nên được cho là nơi cuối cùng của long mạch, tiềm ẩn và phát tích đất đế vương.

Cảnh ở đây quá tuyệt nên có thơ: Rồng thiêng tiên cưỡi đi đâu/Cánh Tiên để đó dãi dầu nắng mưa/Cùng non tháp giữ tình xưa/Trải bao dâu bể vẫn chưa nao lòng/Đồ Bàn còn núi còn sông/Còn tiên kết cánh, còn rồng tuôn mây.

Lặng lẽ ngôi chùa Thập Tháp linh thiêng với kiến trúc hơn 340 năm vẫn âm vang theo tiếng chuông. Chùa gắn với câu chuyện hạt lúa khổng lồ, cứ đến mùa xuân, sau khi ruộng cày bừa xong lúa tự lăn ra đồng gieo hạt, đâm chồi trổ gié. Đến mùa hạ, người nông dân dọn dẹp sân sạch sẽ lúa tự lăn về. Mỗi hạt lúa dùng đủ no một tháng và chỉ dành cho người nghèo khổ.

< Làng sen Bả Canh bên cạnh tháp Cánh Tiên.

Chùa lồng lộng mát hơi nước sông Kôn lại rợp bóng cây cổ thụ hơn 200 năm tuổi và những báu vật như quả chuông đúc từ thế kỷ 19, câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu, 2.000 bản gỗ in kinh Di Đà...

Rợn ngợp trong không khí linh thiêng, hòa cùng non nước hữu tình, du khách có thể thả hồn mình ven con đường làng, qua những bàu sen để đến chùa Nhạn Sơn theo tiếng đồn linh thiêng của hai pho tượng Ông Đỏ - Ông Đen, đến nỗi đồn rằng ai có nỗi ưu phiền thế sự, xui xẻo khi chui qua Ông Đỏ - Ông Đen là mọi việc được xóa sạch...

Dấu vết xưa không chỉ còn ở di tích lịch sử mà du khách còn tha hồ thăm những làng nghề truyền thống duy trì bao đời xúm xít quanh kinh đô xưa. Từ làng gốm Vân Sơn, làng dệt, làng rèn Phương Danh, làng đúc đồng Bằng Châu, làng tiện gỗ, làng nón Gò Găng, nón ngựa Phú Gia và rất nhiều làng võ dọc sông Kôn cho thấy sự rộn ràng xe ngựa phồn hoa trên mảnh đất kinh kỳ.
Xem nguồn >

Theo Trường Đăng (Tuổi Trẻ Chủ Nhật)

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Đại Nội Huế

Nằm ở bờ Bắc dòng sông Hương thơ mộng, Kinh thành Huế được xây dựng trên một mặt bằng diện tích hơn 500ha, bao gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, được gọi chung là Đại Nội. Đây là trung tâm hành chính, chính trị của triều đình nhà Nguyễn và là nơi sinh hoạt của nhà vua và hoàng gia. Đại Nội Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới từ năm 1993.

Từ thế kỷ XVI, do biến động lịch sử của dân tộc, nên trong nhiều cộng đồng người Việt, người Chăm và các dân tộc khác đã diễn ra một làn sóng di dân liên tục mà tiêu biểu là cuộc "Nam tiến" lớn nhất do chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ trên đất Thuận Hoá năm 1558.

Trên nền tảng vật chất và tinh thần đã được hình thành ở Huế từ đầu thế kỷ XIV, các chúa Nguyễn (thế kỷ XVI-XVIII), triều đại Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và các vua Nguyễn (1802-1945) đã tiếp tục phát huy và gây dựng ở đây một tài sản văn hoá vô giá. Tiêu biểu nhất là Quần thể di tích Cố đô Huế đã được ghi vào danh mục Di sản Văn hoá Thế giới của UNESCO.

< Cửu Đỉnh đặt ở trước Hiển Lâm Các.

Hệ thống Đại Nội Huế

Hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn là ba tòa thành: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc.

Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh...


< Cổng Ngọ Môn, một trong những biểu tượng của Cố đô Huế.

Ðại Nội, bao gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, có hơn 100 công trình kiến trúc đẹp ở nhiều khu vực khác nhau với các chức năng khác nhau. Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833, mọi việc mới được hoàn tất.

Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m, có 4 cổng ra vào với cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Trong đó, độc đáo nhất và thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô là Ngọ Môn, khu vực hành chính tối cao của triều đình nhà Nguyễn. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy.

Những khu vực trọng yếu của Hoàng Thành bao gồm: Khu vực phòng vệ, Khu vực cử hành đại lễ, Khu vực miếu thờ, Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua, Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí... Ngoài ra, còn có kho tàng (Phủ Nội Vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia.

Khu vực quan trọng và rộng lớn nhất là Tử Cấm Thành xây dựng gần vuông, mỗi cạnh trên dưới 300m, vòng tường chung quanh cao 3,5m. Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến trúc, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều), điện Càn Thành (chỗ ở của vua), cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý Phi), lầu Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương), nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường (nhà hát hoàng cung)…

Mặc dù có rất nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành nhưng tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm.

Tuy quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu “trùng lương trùng thiềm”, hay còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” – kiểu nhà kép hai mái trên một nền, đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói thanh lưu ly (nếu có màu xanh) hoặc hoàng lưu ly (nếu có màu vàng). Các cột được sơn thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây). Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời.

Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong là khu vực cực kỳ trọng yếu, được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ nguyên tắc (tính từ trong ra): “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”. Ngay cả trong các miếu thờ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự “tả chiêu hữu mục” (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian).

Bảo tồn công trình kiến trúc triều Nguyễn

Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.

Công trình Đại Nội Huế biểu hiện sự kết tinh về thẩm mỹ nghệ thuật, ý thức, về sự giao cảm giữa thiên nhiên, môi trường và con người. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa được coi là việc làm cấp thiết. Bảo tồn di tích kiến trúc nhằm hướng đến giữ gìn, bảo lưu và chuyển giao một cách toàn diện, đầy đủ và chân xác các giá trị hữu hình và vô hình của tài sản văn hoá kiến trúc cho thế hệ mai sau.

Kể từ khi được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới đến nay, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã trùng tu, phục hồi được 132 công trình, hạng mục di tích tiêu biểu. Trong đó có Ngọ Môn, Điện Thái Hoà, Hiển Lâm các, cụm di tích Thế Miếu, cung Diên Thọ, Duyệt Thị Đường, cung Trường Sanh, hệ thống trường lang Tử Cấm Thành, Minh Lâu, điện Sùng Ân, Hữu Tùng Tự, Bi Đình (lăng Minh Mạng); điện Hoà Khiêm, Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Điện (lăng Tự Đức); Thiên Định Cung, Bi Đình (lăng Khải Định), chùa Thiên Mụ, cung An Định, các cổng của kinh thành Huế...

Hầu hết các di tích đều được bảo quản cấp thiết, bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hóa... Nhờ vậy, trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt xảy ra liên tiếp, các di tích vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổi thọ.

Bên cạnh việc trùng tu, bảo tồn kiến trúc, gần đây, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã triển khai thêm nhiều hoạt động văn hóa tại Khu di tích Đại Nội Huế.

Du khách có thể tham gia đêm Hoàng cung được tổ chức định kỳ vào thứ Bảy hàng tuần. Toàn bộ khung cảnh Đại Nội ngập tràn ánh sáng, tái hiện lại những họat động văn hóa nghệ thuật độc đáo của cung đình xưa. Trong đó nổi bật có lễ Đổi gác tại Ngọ Môn diễn ra từ 09h00 đến 09h30 hàng ngày. Hoạt động văn hóa mới này sẽ nhằm giới thiệu đến với du khách một trong những nghi thức trong triều đình xưa, đồng thời tạo điểm nhấn du lịch mới.

Cùng với lễ Đổi gác, các hoạt động khác như biểu diễn Đại nhạc tại sân Thế Miếu từ 09h00 đến 11h00 (sáng) và 14h30 đến 16h30 (chiều), hay biểu diễn Tiểu nhạc tại điện Thái Hòa từ 08h00 đến 10h30 (sáng) và từ 14h00 đến 16h00 (chiều) cũng được tổ chức hàng ngày.

Đến nay, trải qua bao biến động và thời gian, nhưng với tư cách là tài sản vô giá của dân tộc, là thành quả lao động của hàng vạn người trong suốt một thời gian dài, Khu di tích Đại Nội vẫn luôn là một công trình lịch sử minh chứng cho sự tồn tại của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

Theo Thanh Thủy (Quehuong online)

Thành cổ Đồng Hới

(Quangbinh.gov) - Thành Đồng Hới có tên chữ là Định Bắc Trường Thành, tọa lạc trên một vùng đất xung yếu, là chốt độc đạo trên con đường xuyên Việt từ Bắc vào hay Nam ra.

< Quảng Bình Quan.

Thành gần biển, cách cửa biển Nhật Lệ 1.5km. Phía Đông là con sông Nhật Lệ, phía Tây cách rừng khoảng vài nghìn mét. Thành nằm ở phường Hải Đình, trung tâm thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đây là di tích kiến trúc - nghệ thuật thành luỹ quân sự.

< Đến nay, Thành chỉ còn 1.087m. Đoạn thành phía Nam còn lại 2/3 tương đối nguyên vẹn.

Thành Đồng Hới được khởi công xây dựng từ năm Gia Long thứ 16 (1812) bằng đất. Thành được xây ngay trên mảnh đất xưa kia chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho xây bức luỹ Trấn Ninh (luỹ Đào Duy Từ 1631) và đồn Động Hải 1774.

Tám năm sau khi Gia Long mất, Minh Mạng nối ngôi, ông đã nhờ một sĩ quan người Pháp thiết kế lại thành Đồng Hới và xây lại bằng gạch (1824) theo kiểu vô băng, thành luỹ quân sự, thành có kiến trúc đẹp, hình múi khế, 4 múi to, 4 múi nhỏ, 4 múi nhỏ theo hướng Tây Nam - Đông Bắc và Tây Bắc - Đông Nam.

Chu vi thành 465 trượng (1.860m), cao 1 trượng (4m). Mặt thành rộng 1m35, móng thành dày 2m. Mặt chính của thành quay về hướng Tây. Thành có 3 cổng lớn Bắc - Nam - Đông, trên cổng có vọng canh 8 mái. Cổng thành xây uốn kiểu tam quan thông ra ngoài bằng chiếc cầu gạch cũng xây kiểu vòm cuốn xinh xắn.

Ngoài thành cách chân thành khoảng 5 - 6m là hào rộng 7 trượng (28m) nay còn lại khoảng 15-20m. Mặt trong thành đắp đất phụ thêm dày 3 trượng (12m). Phần đắp đất phụ này hầu hết đã bị san phẳng còn lại dấu tích rất ít.

Thành xây bằng gạch, vữa bằng mật mía trộn cát (không tô trát). Gạch có độ nung cao, loại gạch to (gạch vồ) có hai loại: 0,3m x 0,3m x 0,06m và 0,28 x 0,14 x 0,06. Các đầu múi khế là các vọng lâu và là những sở chỉ huy trực tiếp khi có các cuộc chiến đấu xảy ra.


< Cửa Đông thành cổ.

Năm 1842, Thiệu Trị lên ngôi được hai năm, ông đã đi Bắc tuần Động Hải và ra lệnh cho quan Thượng thư Bộ công và quân dân địa phương tu sửa lại thành và các luỹ cũ chắc chắn hơn.

Thành Đồng Hới ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, từ thời Lý Thánh Tông và Lý Thường Kiệt đi chinh phạt giặc Chiêm Thành (thế kỷ XI), Trần Duệ Tôn (thế kỷ XIV) Lê Thánh Tông (thế kỷ XV) đi kinh lý phương Nam.

Mảnh đất bi hùng này còn chứng kiến cuộc hành quân thần tốc của người anh hùng Nguyễn Huệ, hai lần ra Bắc chinh phạt lũ bán nước và cướp nước. Đến thế kỷ XVII trên mảnh đất thành Đồng Hới là vùng ’’phên dậu’’ tranh chấp đất đai. và quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn suốt 45 năm (1627 -1672) gây nên cảnh "nồi da xáo thịt’’, "huynh đệ tương tàn".

Thành Đồng Hới thể hiện lòng yêu nước và tinh thần quyết tâm chống thù trong giặc ngoài của người dân Quảng Bình.

Năm 1885, thực dân Pháp tấn công thành Đồng Hới nhưng nhân dân và binh sĩ vùng Động Hải đã đánh trả quyết liệt, cuối cùng thực dân Pháp phải rút lui. Do sự hèn nhát của vua, quan Triều Nguyễn, ngày 19-7-1885 thực dân Pháp tấn công thành Đồng Hới lần thứ hai, chiếm được thành dễ dàng.

Trong phong trào “Cần vương” nhân dân Đồng Hới tham gia nghĩa quân của Nguyễn Phạm Tuân chỉ huy, đã ba lần đột nhập thành Đồng Hới (tháng 1, tháng 6 và tháng 8 năm 1886) tấn công binh lính Pháp trong thành gây cho địch nhiều tổn thất.

Qua chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954) quân và dân thị xã nhiều lần tập kích quân Pháp ở trong thành gây cho chúng nhiều thiệt hại. Ngày 18-8-1954, tên Pháp cuối cùng rời khỏi thành rút xuống tàu há miệng về nước.

Ngày 16-6-1957, vinh dự cho quân và dân Quảng Bình được đón Bác Hồ vào thăm và nói chuyện. Thành Đồng Hới rợp cờ hoa và biển người đón Bác.
Thành Đồng Hới từ khi xây dựng cho đến nay luôn là trụ sở của cơ quan đầu não (của ta và của địch) và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của một vùng, một phủ và của tỉnh Quảng Bình.

Thành hiện này còn một nửa. Đoạn thành phía Đông, 3 cổng và hai cầu Nam - Bắc đã bị sập hoàn toàn do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Cầu phía Đông còn nhưng không nguyên dạng như ban đầu. Thành còn 1.087m với 15 đoạn zic zac hình răng khế. Đoạn thành phía Nam còn lại 2/3 tương đối nguyên vẹn.

Ngày nay, mỗi bước phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh nhà đều ghi thêm một trang sử mới cho di tích thành Đồng Hới. Nhiều công trình mới mọc lên nhưng không làm mất đi vẻ cổ kính của thành Đồng Hới mà trái lại càng tô điểm thêm cho toà thành cổ soi bóng bên dòng sông Nhật Lệ.

Theo web Quangbinh.gov + internet

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Nét đẹp xưa ở Diên Khánh

(DNSG) - Nằm bên dòng sông Cái thơ mộng, huyện Diên Khánh, trung tâm của phủ Diên Khánh một thời giờ quanh năm mang màu xanh mát rượi của non cao nước biếc, của những cánh đồng bát ngát và những vườn cây nặng trĩu quả.

Tọa lạc bên cạnh thành phố Nha Trang nổi tiếng, vùng đất này vẫn có những nét đẹp và những di tích có nét cuốn hút riêng. Năm 1793, Nguyễn Ánh đã cho xây dựng trên mảnh đất khi ấy còn heo hút một tòa thành theo hình mẫu phổ biến ở phương Tây vào thời kỳ này. Thành Diên Khánh có diện tích khoảng 36.000m² với sáu cửa thành ở sáu mặt tường...

Qua thời gian, hiện nay chỉ còn cửa Đông và cửa Tây còn nguyên vẹn và hiện vẫn là hai cửa ngõ chính ra vào khu vực trung tâm thị trấn Diên Khánh.

< Văn Miếu thờ Đức Khổng Tử.

Ra khỏi thành, tới thôn Phú Lộc là đến với Văn Miếu thờ Đức Khổng Tử, người được tụng xưng là “Vạn thế sư biểu” (Người thầy của muôn đời). Văn Miếu được xây dựng với quy mô lớn từ năm 1853 và đến năm sau thì cơ bản hoàn thành: phía trước có nhà bi đình, chính giữa có tòa tiền đường và chính đường cao rộng, làm bằng gỗ xây tường gạch bao, các cột kèo được chạm trổ sơn son thếp vàng đẹp đẽ, uy nghiêm. Hiện nay, trong Văn Miếu vẫn còn một tấm bia khắc tên những người trong phủ đã từng học hành và đỗ đạt cao trong các khoa thi.

< Nhà thờ giáo xứ Cây Vông.

Nằm phía tả ngạn sông Cái trong phạm vi hai xã Diên Sơn và Diên Thủy, nhà thờ giáo xứ Cây Vông là một kiến trúc đẹp và ấn tượng chạy dọc dài hai cây số hai bên tỉnh lộ 8, với khu giáo đường bề thếở trung tâm. Xa xa phía trước mặt thánh đường có dòng sông hiền hòa uốn khúc bao bọc đồng lúa Ðồng Hiền tươi tốt hai mùa. Ðàng sau thánh đường cũng là một cánh đồng bát ngát trù phú mang tên Ðại Ðiền và xa hơn nữa có hai dãy núi Ðại An, Hòn Ngang hùng vĩ chạy dài từ đông sang tây che chở cho cả vùng đất hữu tình. Được bắt đầu xây dựng từ cách đây gần 300 năm, nhà thờ giáo xứ Cây Vông là một trong các nhà thờ kỳ cựu nhất của vùng Khánh Hòa.

Cách đó không xa tồn tại một di tích gắn liền với truyền thuyết dân gian về Thiên Y Ana nằm ở thôn Đại Điền Trung, xã Diên Điền. Nơi đây hiện còn đền thờ nữ thần Thiên Y Ana trên núi Đại An (còn gọi Qua Sơn hay núi Chúa). Núi Chúa cao khoảng 300 mét, cây cối thưa thớt, dựa lưng vào một dãy núi cao có nhiều phiến đá to và rừng rậm, trước mặt là cánh đồng rộng. Đền thờ Thiên Y Ana dựng nơi sườn núi, xây gạch, lợp ngói đơn sơ.

Đền có tượng thờ Bà Chúa, ngồi trên bệ rồng, tay cầm quạt đặt trên đầu gối. Mũ miện và trang phục của tượng rất gần gũi với lối triều phục của người Việt Nam.Theo truyền thuyết đây chính là nơi thờ Bà Chúa xứ đầu tiên, mãi đến thế kỷ VII-VIII mới được dời về Ponagar (Nha Trang ngày nay).

< Am chúa nơi thờ Thiên Y Ana.

Qua nhiều biến thiên của thời gian và lịch sử, miếu và tượng thờ cũng nhiều lần thay đổi, phục chế lại. Riêng hai ngôi mộ trước miếu có hai cây cổ chi (cây mã tiền) tỏa bóng, cũng theo truyền thuyết dân gian đây là mộ của vợ chồng người tiều phu già vẫn ở nguyên vị trí như xưa, được người đời sau xây lại bằng đá thành hai ngôi tháp như ngày nay.

Một di tích không kém phần cổ kính nữa là chùa Thiên Lộc nằm ở thôn Phú Ân Nam, xã Diên An.Chùa nằm sâu trong một vùng thôn quê yên tĩnh với lũy tre làng và dòng sông uốn lượn.Đây là một ngôi chùa cổ đẹp, mỗi năm có cả chục ngàn du khách đến vãn cảnh.Mặt chùa nhìn về dãy núi Chín Khúc (còn gọi là núi Hoàng Ngưu), bên cạnh chùa có dòng sông chỉ có nước vào mùa mưa lũ, nên gọi là sông Cạn.

< Nhà cổ ở Diên Khánh.

Thật khó xác định đúng niên đại xây dựng chùa nhưng những cổ vật có mặt trong chùa và các Long vị thờ Tổ sư tiền bối cho biết chùa Thiên Lộc đã được xây dựng cách nay gần ba thế kỷ.

Trong chùa còn lưu giữ một đại hồng chung và một bảo chúng là hai vật rất xưa có từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Trong sân chùa có 12 cây tùng được trồng thẳng tắp. Sau chùa là một cây bồ đề to lớn, phải bốn người dang tay ôm mới xuể.
Xem thêm >

Theo Minh Hà (báo Doanh Nhân Sàigon)

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Đi trên đường 20 Quyết Thắng

(ANTĐ) - Đường 20 Quyết Thắng. Mới chỉ nghe qua, người nghe không khỏi tò mò bởi cái tên đường có phần kỳ lạ và dữ dội, cũng bởi mỗi mét trên con đường này là mỗi mét xương máu của chiến tranh.

< Ngã ba Trạ Ang trên đường 20 Quyết Thắng.

Đường 20 - Quyết Thắng bắt đầu từ bản làng Phong Nha xinh đẹp, bên dòng sông Son xanh thẫm một màu rừng núi Trường Sơn. Trải hết chiều dài 123km cắt ngang khu bảo tồn thiên nhiên rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng rồi đi sang nước bạn Lào và dừng lại ở ngã ba Lùm Phùm thuộc tỉnh Khăm Muộn, Lào, đường 20 - Quyết Thắng là tuyến giao thông mang tầm chiến lược trong việc vận tải của đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử.

< Tượng đài TNXP và bộ đội đuờng 20 - Quyết thắng.

Binh đoàn 559, đơn vị xây dựng đã đặt cho con đường cái tên 20 bởi lẽ bộ đội, TNXP, công nhân và dân công ba sẵn sàng đã tham gia mở, xây dựng và bảo vệ con đường này hầu hết đều ở lứa tuổi 20. Đây là con đường huyết mạch phá thế độc đạo, nối đông Trường Sơn với tây Trường Sơn, giành thế chủ động thắng lợi trên mặt trận giao thông - vận tải nên còn có tên gọi: Đường 20 - Quyết Thắng. Cũng bởi vị trí quan trọng mang tầm lịch sử như vậy mà trong suốt thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, cứ mỗi mét đường là mỗi mét máu xương của những tuổi 20 mãi mãi nằm lại nơi đây...

< Di tích hang Tám Cô.

Ngày nay, đi trên đường 20 Quyết Thắng, xen lẫn màu xanh bạt ngàn của núi rừng Trường Sơn, xen lẫn những danh thắng đã trở thành di sản như Phong Nha Kẻ Bàng, động Thiên Đường… thì vẫn còn đó những dấu ấn, di tích chiến tranh, những địa danh lịch sử từng ghi dấu ấn oai hùng…

Hang Tám Cô nằm trên km16 của con đường 20 Quyết Thắng huyền thoại ấy, một phần của đường Trường Sơn lịch sử, nơi bom đạn Mỹ đánh phá ngày đêm nhằm chặt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam và cũng là nơi lực lượng TNXP đổ máu để giữ cho tuyến đường thông suốt. Ngày 14-11-1972, trước cửa hang Tám Cô, tám anh chị TNXP đang san lấp hố bom để thông đường thì máy bay Mỹ ập đến. Họ vội chạy vào hang để tránh bom. Mỹ đánh bom làm sập cửa hang.

< Khu vực Trạ Ang.

Cả tám anh chị đều là người huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, cùng lứa tuổi từ 20-25, cùng nhập ngũ ngày 20-6-1971 vào Đại đội thanh niên xung phong 163 đã anh dũng hy sinh. Cái chết bi hùng của các anh, các chị đã làm xúc động lòng người, nhất là đối với lứa tuổi thanh niên.

Đồng đội đã dựng bia khắc tên các anh các chị bên một hang đá. Hiện nay, tại khu di tích Hang Tám Cô, miếu thờ tám cô tại đây vẫn còn ghi lại những dấu ấn năm xưa chưa hề phai nhạt, dấu ấn về một lịch sử oai hùng.

Rồi những ngã ba Trạ Ang, ngầm Ta Lê, đèo Pu-La-Nhích, cua chữ A... và còn nhiều nữa những địa danh như thế, mỗi mét đường là mỗi mét xương máu hi sinh để giữ lại trên con đường 20 Quyết Thắng một màu xanh thẳm của núi rừng, của Trường Sơn, của những con người lứa tuổi 20 bất tử.
Xem thêm >

Theo Vũ Thanh (Báo An Ninh Thủ Đô)

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Phủ Tuy Lý - Huế

(TTH) - Dưới triều Nguyễn (1802 - 1945), ở Huế có rất nhiều phủ đệ của các ông hoàng bà chúa. Phủ là nơi ăn ở của một hoàng tử và đệ là nơi ăn ở của một công chúa sau khi họ được dựng vợ gả chồng.

< Tam quan phủ Tuy Lý vương.

Các phủ đệ nằm ở những xóm phường yên ả trong Thành Nội và các làng mạc ở ven đô, nhưng tập trung nhất là ở Kim Long, Vỹ Dạ, Gia Hội và bên bờ sông An Cựu. Phủ đệ nào cũng đã được quy hoạch và xây dựng theo nguyên tắc kiến trúc truyền thống, giống như bao nhiêu khu nhà vườn khác trong dân gian.

Một trong những phủ đệ tiêu biểu nhất hiện nay là phủ Tuy Lý ở Vỹ Dạ. Cơ ngơi này đang mang địa chỉ số 140 đường Nguyễn Sinh Cung, thành phố Huế. Tên chính thức của nó là "Tuy Lý Vương Từ" như được ghi trên một bức hoành phi sơn son thếp vàng treo ở ngôi nhà chính bên trong khuôn viên. Bốn chữ ấy có nghĩa là nơi thờ Tuy Lý Vương. Tuy nhiên, dân chúng địa phương thì chỉ quen gọi đó là phủ Ba Cửa, vì ở mặt tiền của khuôn viên phủ này, ngày xưa có đến ba cái cửa: 1 cửa chính và 2 cửa phụ.

< Phủ thờ bà Tiệp dư Lê Thị Ái, thân mẫu Tuy Lý vương trong khuôn viên của phủ Tuy Lý.

Tuy Lý Vương sinh năm 1820, tên thật là Nguyễn Phúc Miên Trinh, con thứ 11 của vua Minh Mạng (1820 - 1840); có tên chữ là Khôn Chương và Quý Trọng, hiệu là Vỹ Dạ và Tịnh Phố. Tuy Lý Vương là tước được vua ban về sau. Năm 13 tuổi, ông đã nổi tiếng giỏi về thơ, cho nên, người đương thời gọi ông là "Ông hoàng thơ".

Năm 1851, ông được giao trông coi Tôn Học Đường là trường học dành riêng cho các con em trong hoàng tộc. Năm 1865, ông được cử kiêm nhiệm chức Hữu Tôn Chánh. Đó là những chức vụ cao cấp trong Tôn Nhơn Phủ, cơ quan quản lý hoàng tộc.


< Án thờ vọng, hoành phi, đối liễn trong phủ thờ Tuy Lý vương.

Năm 1883, sau khi vua Tự Đức thăng hà, ông được triều đình vua Hiệp Hòa ủy nhiệm giao thiệp với tòa Khâm sứ Pháp. Đây là thời điểm phe phủ chiến trong triều đình Huế gây ra cảnh lật đổ các vua nhà Nguyễn như trở bàn tay (tứ nguyệt tam vương), làm cho nhân tâm dao động. Cũng trong năm đó, người con thứ 6 của ông là Hồng Sâm tỏ thái độ chống đối sự chuyên quyền của hai quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường.

Hồng Sâm và một số người bị bắt, bị giết. Tuy Lý Vương bị truy nã. Ông phải trốn xuống một tàu chiến Pháp ở Thuận An nhờ che chở, nhưng bị phe chủ chiến đòi lại, rồi bị đưa vào an trí tại Quảng Ngãi. Sau khi vua Đồng Khánh lên ngôi (1885), ông mới được trở về sống ở Huế. Vào đầu thời Thành Thái (1889), ông được cử làm Phụ chính thân thần. Đến năm 1897, vì tuổi cao sức yếu, ông xin về vui thú điền viên ở phủ riêng tại Vỹ Dạ, rồi qua đời vào cuối năm ấy, thọ 78 tuổi, được con cháu chôn bên cạnh mộ của mẹ ông tại làng Dương Xuân.


< Phủ thờ Tuy Lý vương.

Tuy Lý Vương là em cùng cha khác mẹ của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Đều rất sành thơ văn, hai ông thường lui tới thăm nhau, cùng liên ngâm xướng họa và đã lập ra Mạc Vân Thi Xã, hội thơ nổi tiếng một thời ở đất Thần kinh. Ông để lại một khối lượng thơ văn khá đồ sộ bằng chữ Hán và chữ Nôm. Văn ông thường đề cập đến vấn đề đạo đức, luân lý. Thơ ông phần nhiều nói lên cảm xúc trước thiên nhiên, đối với người thân và bạn bè. Một số là những bài thơ thù tạc hoặc nói về sinh hoạt nhàn nhã của giới quý tộc.

Về thơ văn chữ Hán, ông để lại bộ "Vỹ Dạ hợp tập" gồm 11 quyển cả văn và thơ, được khắc in năm 1875, trong đó có một bài thơ trường thiên nhan đề là "Nam cầm khúc" đã được con là Hồng Sâm dịch ra chữ Nôm theo thể lục bát.


< Án thờ và chân dung Tuy Lý vương.

Về thơ Nôm của Tuy Lý Vương, ngoài những bài xướng họa với các danh sĩ đương thời, hiện còn truyền lại các tác phẩm "Nữ phạm diễn nghĩa từ", "Nghinh tường khúc" và "Hòa lạc ca" (làm chung với anh là Miên Thẩm và em là Miên Bửu).

Văn tài của ông cũng như của anh ông đã được nhiều văn nhân Việt Nam và Trung Quốc ca ngợi, chẳng hạn như trong câu: "Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán. Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường". Sự nghiệp văn chương của ông đã được ghi vào trong tất cả sách văn học sử của nước nhà và trong các bộ từ điển danh nhân Việt Nam xuất bản trong mấy chục năm qua, kể cả bộ "Từ điển văn học" ấn hành vào năm 1984.
Khuôn viên của phủ Tuy Lý rộng 4 sào 6 thước 3 tấc, tức là hơn 2000m2.

Lúc sinh thời, ông ở với mẹ là bà Lê Thị Ái trong một ngôi nhà tranh ở vườn Tịnh Phổ. Mẹ ông mất vào năm 1863; sau 3 năm mãn tang, vào năm 1866, ông xin vua Tự Đức cho cải tạo ngôi nhà tranh thành nhà gỗ lợp ngói để thờ mẹ. Biết ông là người rất có hiếu với mẹ, nhà vua y cho và ngôi từ đường được xây dựng xong ngay trong năm ấy. Đây là ngôi nhà rường một gian hai chái đã trải qua 140 năm (1866 - 2006), hiện nay vẫn còn, bên trong treo tấm hoành phi đề dòng chữ "Tiền triều Lê tiệp dư từ".

< Bình phong cổ ở phủ Tuy Lý Vương.

Cách sau đó một cái sân là ngôi nhà mang tên "Tuy Lý Vương Từ", nơi thờ ông. Đây là ngôi nhà rường ba gian hai chái được làm theo kiểu nhà kép, gồm hai bộ mái được nối lại với nhau bằng trần thừa lưu. Ở dải cổ diêm và các bờ nóc bờ quyết được trang trí bằng mảnh sành sứ với nhiều đề tài cổ điển rất phong phú, đặc biệt là hình ảnh: long, lân, quy, phụng. Ở nội thất, ngoài các bàn thờ và khám thờ Tuy Lý Vương, còn thiết trí khá nhiều đồ tự khí, các hình ảnh của ông và một số hiện vật quý báu liên quan, đặc biệt là hơn 150 mộc bản đã từng được khắc in một số tác phẩm thơ văn của ông.

< Tủ Mộc bản triều Nguyễn tại Di tích văn hóa phủ Tuy Lý Vương.

Hai bên sân trước của tòa nhà này còn có hai ngôi nhà nhỏ hơn, gọi là Tả vu và Hữu vu nằm đối diện nhau, dùng làm nơi hào soạn trong những dịp cúng kỵ; nhưng đã hư hỏng từ lâu, nay chỉ còn móng nhà. Ở bên phải nhà thờ bà mẹ của Tuy Lý Vương, có một ngôi nhà xây bằng bê tông để thờ một bà vợ thứ của ông là bà phủ thiếp Nguyễn Thị Lựu.

Vì phủ Tuy Lý là một công trình kiến trúc mang những giá trị cao về lịch sử văn hóa và văn học nghệ thuật, cho nên, nó đã được công nhận là di tích quốc gia vào năm 1991.
Các thế hệ con cháu của "ông hoàng thơ" là cả một dòng chảy văn chương nghệ thuật không dứt cho đến ngày nay.
Xem thêm >

Theo Thuathienhue.gov - ảnh internet

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Di tích Đồng Nọc Nạng

Bạc Liêu là vùng đất có bề dày truyền thống đấu tranh cách mạng với nhiều cuộc đấu tranh của tầng lớp nông dân đã viết lên những trang sử hào hùng, ở đâu có áp bức là ở đó có đấu tranh. Cuộc nổi dậy của anh em Mười Chức vào năm 1928 tại đồng Nọc Nạng, làng Phong Thạnh, quận Giá Rai (nay là huyện Giá Rai), tuy mang tính tự phát nhưng sự dũng cảm và quyết liệt của những người dân nơi đây đã tạo được tiếng vang ở Bạc Liêu, chấn động dư luận cả nước.

Xưa kia vùng đất này còn hoang vu sình lầy với rừng tràm, lau sậy và đầy cỏ dại, những lưu dân khai khẩn ban đầu phải chặt cây làm nọc đóng xuống sình rồi gác nạng lên để làm nhà nhằm tránh thú dữ và rắn độc.

Cái tên Nọc Nạng sinh ra từ đó, gọi tên một con rạch và một cánh đồng. Cuộc nổi dậy làm nên lịch sử ấy đều do người dân vì sự áp bức quá sức chịu đựng mà tự phát đứng lên phá ách áp bức để làm chủ những gì vốn là của mình.

Nọc Nạn là tên một con rạch chạy dài từ phía Tây Bắc xã Phong Thạnh đổ ra kinh xáng Bạc Liêu – Cà Mau ngang quốc lộ 1. Cánh đồng ven rạch về phía Đông gọi là đồng Nọc Nạn thuộc ấp 4, xã Phong Thạnh, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Di tích đồng Nọc Nạng với tổng diện tích quy hoạch và tôn tạo là 35.000m² , trong đó diện tích bảo vệ là 10.279m² , di tích lịch sử này là mộ lưu niệm do Đảng Bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bạc Liêu xây dựng để ghi lại chiến công quật khởi của nông dân Nọc Nạng.

Nơi đây, vào năm 1928 trên cánh đồng Nọc Nạng, làng Phong Thạnh, quận Giá Rai đã xảy ra sự kiện vang cả đến Đông Dương, đó là cuộc nổi dậy của gia đình anh em nông dân Mười Chức chống chính quyền thực dân và bè lũ tay sai. Tên địa chủ Mã Ngân dùng nhiều thủ đoạn xảo quyệt cùng tên Phủ Huấn tiếp tay đến cướp lúa, cướp đất của gia đình anh em Mười Chức. Cuộc xô xát giữa anh em Mười Chức dùng giáo mác, gậy gộc chống địa chủ Bang Tắc có chính quyền thực dân Pháp do hai tên Cò Tournier và Bauzou cùng phó quản Danh Long chỉ huy lính mã tà, lính kín, một số tên Hương chức Hội tề làng Phong Thạnh diễn ra hết sức ác liệt tại sân lúa Mười Chức vào sáng ngày 16 tháng 02 năm 1928. Bốn người trong gia đình Mười Chức đã hy sinh trong một trận đánh không cân sức.

Phía chính quyền thực dân Pháp, Cò Tournier đền mạng, một số khác bị thương. Sự kiện đồng Nọc Nạng làm cho nông dân Bạc Liêu càng sôi sục lòng căm thù, mâu thuẫn sâu sắc giữa nông dân và địa chủ phong kiến, giữa nhân dân Bạc Liêu và bọn đế quốc thống trị đã đến tột độ. Mở đường cho những người Cộng sản Việt Nam mang ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Nguyễn Ái Quốc đặt chân lên vùng đất Bạc Liêu. Cuộc nổi dậy của sự kiện đồng Nọc Nạng vừa đánh dấu cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn lan khắp Đồng bằng sông Cửu Long những năm đầu thế kỷ, vừa nói lên đời sống tinh thần phong phú của nông dân ở một miền mà chính sự hình thành lịch sử ấy đã hun đúc cho những đức tính truyền thống kiên cường của dân tộc ở một vùng đất vừa khai phá.

Ngày 30 tháng 8 năm 1991, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng nơi diễn ra sự kiện Nọc Nạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Khu di tích có diện tích khoảng 3ha bao gồm nhiều hạng mục công trình, được chia làm hai phần là sân phơi lúa và khu mộ ông bà Tám Luông (song thân ông Mười Chức) cùng các anh em ông, cách nhau khoảng 300m. Khu mộ ông bà Tám Luông được anh em ông Mười Chức đắp sau khi ông bà mất. Nền mộ rộng khoảng 700m, cao 50cm, bên trên có xây nhà mồ.

Nhà rộng 30m² tường xây cao 1,20m cửa quay về hướng Nam. Tường bao nhà mồ được xây bằng gạch thẻ chừa ô cách khoảng nhau, tạo không gian khoáng đạt. Khu thờ tự có mái che uốn cong đúc bê tông cốt thép 20 x 20. Bệ thờ cách nền 50cm, được bày trí đơn giản, lát gạch bông 20 x 20 màu đỏ và màu vàng xen kẽ. Mộ ông Tám Luông (phía Tây) và bà Tám Luông (phía Đông) quay ra hướng cổng (phía Nam). Mộ có kích thước 2 x 0,8 x 1,05 m, nấm xây tròn là khối hình thang cạnh trên 0,80m, cạnh dưới 1m, mặt trước ghi tên, năm mất. Xung quanh mộ trang trí hoa văn đắp nổi chạy dọc gần 4 đường xung song song, hai ngôi mộ cách nhau 1,5m. Sau sự kiện Nọc Nạng, những người bị thảm sát được chôn rải rác gần đó. Đến năm 1963, tất cả các ngôi mộ đều được quy tập về chung một khu.

Năm 2008, nhân kỷ niệm 80 năm ngày xảy ra sự kiện đồng Nọc Nạng, huyện Giá Rai đã tiến hành trùng tu, mở rộng khu di tích. Công trình được khánh thành ngày 16/02/2008. Khu di tích này có diện tích hơn 3.000m², gồm các hạng mục trùng tu, mở rộng: khu mộ gia đình Mười Chức, nhà tưởng niệm, nhà trưng bày, cụm tượng tái hiện trận đánh giữa gia đình Mười Chức và bọn Tây cướp lúa... với tổng đầu tư trên 8 tỷ đồng.

Hằng năm, vào ngày mồng 9 Tết Nguyên đán, nhân dân huyện Giá Rai tổ chức lễ hội rất long trọng. Lễ hội đồng Nọc Nạng được tỉnh Bạc Liêu chọn làm hoạt động tham gia chương trình năm Du lịch Quốc gia Mêkông Cần Thơ-2008. Lễ hội “Dấu ấn Đồng Nọc Nạng” với nghi thức trang nghiêm, long trọng nhằm tưởng nhớ một thế hệ cha ông khí tiết kiên trung, đã anh dũng đứng lên bảo vệ hạt lúa, thửa ruộng cho vùng đất nông nghiệp Giá Rai ngày nay thêm màu mỡ, phát triển trong tiến trình xây dựng nông thôn mới.

Lễ hội “Dấu ấn Đồng Nọc Nạng” hàng năm thu hút hàng trăm lượt khách tham quan, đến nơi đây vào dịp lễ hội như tìm về nguồn cội, thắp một nén hương bày tỏ lòng thành kín, tri ân các bậc tiền nhân với tinh thần đấu tranh bất khuất trước khi có Đảng ra đời làm chấn động cả lục tỉnh Nam kỳ. Trong những ngày diễn ra lễ hội, tại khu di tích lịch sử Nọc Nạng có nhiều hoạt động phong phú như: giao lưu ẩm thực, thi đấu các trò chơi dân gian, thi cờ tướng, kéo co, thả diều, gánh nước về làng, bóng đá tứ hùng, bịt mắt đập niêu, thi đấu bóng chuyền và các hoạt động ôn lại quá khứ hào hùng của nông dân Giá Rai nói riêng, nông dân Bạc Liêu nói chung, góp phần giáo dục truyền thống và lòng yêu quê hương, đất nước của nhân dân và thế hệ trẻ.

Theo Tin tức Du lịch?

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn

(TTĐTQT) - Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn tọa lạc trên khu đồi Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh; cách trung tâm tỉnh lỵ (TP Đông Hà) khoảng 38km về phía Tây bắc; cách quốc lộ 1A (ở đoạn thị trấn huyện lỵ Gio Linh) chừng hơn 20km về phía Tây bắc.

Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn tọa lạc trên khu đồi Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh; cách trung tâm tỉnh lỵ (thị xã Đông Hà) khoảng 38km về phía Tây bắc; cách quốc lộ 1A (ở đoạn thị trấn huyện lỵ Gio Linh) chừng hơn 20km về phía Tây bắc.

Sau ngày đất nước thống nhất, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng đã phê chuẩn dự án xây dựng nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn tại địa bàn tỉnh Quảng Trị làm nơi tưởng niệm, tôn vinh những người con thân yêu của tổ quốc đã anh dũng hy sinh xương máu của mình trên các nẻo đường  Trường Sơn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nghĩa trang được khởi công xây dựng vào ngày 24/10/1975 và hoàn thành vào ngày 10/4/1977. Chỉ huy xây dựng là Bộ tư lệnh sư đoàn 559 với sự tham gia của hơn 40 đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Ngoài ra còn có tổ công nhân chuyên khắc chữ vào bia đá xã Hoà Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn là nơi quy tụ 10.333 phần mộ của các liệt sỹ; có tổng diện tích 140.000m²; trong đó, diện tích đất mộ là 23.000m², khu tượng đài 7.000m2, khu trồng cây xanh 60.000m², khu hồ cảnh 35.000m² và mạng đường ô tô rải nhựa trong khuôn viên nghĩa trang 15.000m². Phần đất mộ được phân thành 10 khu vực chính.

 Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn là nơi an nghỉ đời đời của các chiến sĩ đã hy sinh trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

Đây là một công trình đền ơn đáp nghĩa đồ sộ nhất, quy mô nhất có tính nghệ thuật cao, thể hiện lòng thương nhớ sâu sắc, niềm biết ơn và sự tôn vinh thầm kín của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đối với những người con yêu quý trên mọi miền đất nước đã không tiếc máu xương cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập binh đoàn Trường Sơn (19/5/1959 – 19/5/1999), Nhà nước đã quyết định cho nâng cấp, tôn tạo lại nghĩa trang Trường Sơn bao gồm nhiều hạng mục:

Cổng vào nghĩa trang  Trường Sơn, hệ thống đường và tường bao quanh, mô hình sở chỉ huy, biểu tượng của các địa phương, các cụm tượng, hệ thống thoát nước, điện nội bộ, trồng cây xanh xung quanh nghĩa trang và nhà khánh tiết, đài Tổ quốc ghi công...
Đến nay tất cả các hạng mục của các công trình về cơ bản đã được hoàn tất.

Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn ngày nay không chỉ là nơi an nghỉ của các anh hùng liệt sỹ mà còn là nơi suy tôn, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần, ý chí đấu tranh giành độc lập và khát vọng hòa bình của nhân dân ta.

Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn không chỉ là nơi để các gia đình liệt sỹ, các đoàn đại biểu của Đảng và Nhà nước, chính quyền các địa phương đến viếng thăm và thực hiện công việc đền ơn đáp nghĩa mà còn là nơi hành hương của nhân dân khắp mọi miền đất nước và bạn bè quốc tế theo truyền thống đạo lý cao đẹp của dân tộc Việt Nam: uống nước nhớ nguồn.

Hiện nay, nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn có 24 cán bộ, nhân viên thường xuyên chăm lo việc coi sóc, tu bổ và tiếp đón các gia đình liệt sỹ, các đoàn khách trong và ngoài nước đến thăm viếng.
Xem thêm >

Theo Trang thông tin Điện tử tỉnh Quảng Trị, ảnh internet.

Bài đăng phổ biến