Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Ăn cơm Việt trên nóc nhà Annapurna

(TTO) - Giải trí: Cơm Việt với người Việt có gì lạ? Cái khác biệt ở đây là cơm Việt và bữa cơm đậm chất Việt trên vùng nóc nhà thế giới - Annapurna.

Chuyện là sau mấy ngày trời di chuyển từ Ấn Độ sang Kathmandu, rồi Pokhara, rồi đi trekking lên đỉnh Poon Hill (Annapurna, Nepal), nhóm chúng tôi... thèm cơm nhà đến mức không chịu nổi. Trên con đường đi xuyên qua rừng đỗ quyên đang bắt đầu vào mùa hoa nở, qua mấy bản làng vắng vẻ, mấy anh chị em bàn nhau chắc phải đặt một con gà luộc cho bữa tối, phải "luộc kiểu Việt Nam", ăn cho đỡ thèm.

Nói là làm, tôi đề nghị Binot (người hướng dẫn địa phương của chúng tôi) gọi điện thoại trước cho nhà hàng ở Ghorepani nằm ở độ cao 2.860m so với mực nước biển xin đặt một con gà. Tôi dặn đi dặn lại Binot là phải nguyên một con gà, không rách rời, "chắp vá".

Nửa buổi chiều hôm đó, Binot điện thoại qua lại để xác nhận tin tốt là sẽ có một con gà phần cho chúng tôi (phải đặt chắc chắn vì chúng tôi sẽ đến điểm nghỉ chân muộn nên nếu không dặn trước, sẽ không có gì mà ăn). Nhưng tin xấu là con gà không có đầu và không có cổ, người dân ở Nepal không có thói quen giữ lại đầu và cổ nên khi làm thịt họ sẽ vứt bỏ phần không sử dụng này đi.


< Bình yên Annapurna.

Tôi kêu ca càm ràm tại sao lại không còn đầu và cổ, thế thì làm sao có thể cúng "thần phượt", bởi chúng tôi có "truyền thống" phải tự túc đồ ăn vì điểm đến thường là những vùng sâu, vùng xa, điều kiện sống khó khăn và không có nhiều dịch vụ du lịch.

Trong khoảng thời gian đầu tiên của chuyến đi, khi có điều kiện phù hợp, tất cả bạn đồng hành sẽ "nộp" các món đồ ăn mình mang theo, gom thành mâm lễ “cúng thần phượt”, cầu cho chuyến đi may mắn, an toàn, mưa thuận gió hòa và cầu cho các chuyến đi chơi sau thần cũng sẽ phù hộ.

Vì thế, chuyện con gà thiếu mất cổ và đầu có chút gì không hoàn chỉnh (mặc dù hoàn toàn là phù phiếm) khiến mọi người hơi buồn. Nhưng không sao, thích nghi là một trong những đức tính quan trọng của dân đi.

Lúc trekking qua làng Banthanti ở độ cao 2.210m so với mực nước biển, mặt trời đã bắt đầu xuống núi. Ánh nắng quái chiều hôm đã dần tắt trên những mái nhà, rừng sẫm màu và bắt đầu se lạnh. Tôi bất ngờ khi thấy có một lồng gà trên sườn núi, phía bên kia con đường, độ 3-4 con đang chen chúc mổ nhau.

Vui mừng quá đỗi, tôi nhờ Binot hỏi mua giùm một con gà sống, tối về chúng tôi sẽ tự tay thịt gà, việc này hẳn mấy bạn đồng hành của tôi cũng khéo xử lý mà thôi. Sau một hồi "giao dịch", Binot đã hỏi mua được một cô gà mái với giá cả rất phải chăng, ở một nơi xa xôi đến thế, 1.000 rupiah tức chưa đến 250.000 đồng.

< Niềm vui khi mua được con gà.

Trong khi các bạn cười nói hồ hởi và tưởng tượng đến bữa tối thịnh soạn thì tôi đi tìm một bao tải dứa để có thể đựng con gà quý giá trên đường lên làng Ghorepani. Dọc đường, Binot cứ dành cho tôi nụ cười vô cùng tò mò, trong đầu chắc đang tự hỏi mấy vị khách sẽ bày trò gì với con gà.

Một bạn trong nhóm hái một bông hoa đỗ quyên hồng thắm nở rất to và đẹp trên đường, dự định thay cho bông hoa hồng mẹ vẫn hay sử dụng cho mâm cúng ở nhà.

Tối mịt chúng tôi mới tới được Ghorepani. Sau khi cất đồ vào phòng, tôi và một bạn trai được phân công đi thịt gà với sự giúp đỡ của cậu khuân vác đã đồng hành cùng chúng tôi từ Nayapool. Đường dẫn nước nằm bên ngoài bếp, và trong điều kiện thời tiết ban đêm đang hạ xuống 1-2 độ C, chúng tôi đã làm thịt được con gà theo đúng cách cổ truyền Việt Nam.

Mọi người vào bếp và với sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của mấy người phụ nữ Nepal, bắc bếp tự tay luộc gà, luộc cải bắp, trứng gà và chiên khoai tây.

Kèm theo một chai nước mắm bé xíu hảo hạng cẩn thận mang đi từ Việt Nam và ăn uống dè sẻn trong mấy ngày qua, một chút muối ớt xanh đỏ cay sực trong đêm lạnh, mấy quả quýt rừng hái trên cây khi qua vùng Ullere, bông hoa đỗ quyên rạng rỡ trên đĩa thịt gà, chúng tôi đã có một mâm cơm “cúng thần phượt” đáng giá.

< Bữa cơm Việt Annapurna.

Mấy vị khách cùng nơi nghỉ, sau bữa tối đang ngồi sưởi ấm quanh bếp lò, tò mò nhìn đám khách với một bàn ăn khá khác thường đang vô cùng hớn hở và tíu tít. Chúng tôi cùng người hướng dẫn địa phương và cậu khuân vác ngồi quanh chiếc bàn ăn trải khăn kẻ ấm áp, cầu thần phượt phù hộ cho chuyến đi được thuận lợi bình an rồi bắt đầu bữa cơm Việt ở một nơi cách xa nhà hàng ngàn kilômet.

Hai người bạn địa phương nhanh chóng nhập cuộc bằng cách xé thịt gà và chấm mắm ớt như mấy người Việt Nam, không một chút e dè. Gà trên núi nên thịt có hơi dai và chắc nịch, nhưng cũng không hề gì, chúng tôi chắc chắn không mong đợi gì hơn...

Tôi đã nhớ mãi, nhớ mãi những khoảnh khắc bạn đồng hành quây quần bên bàn ăn, bên cạnh là bếp lò ấm sực trên vùng đất được mệnh danh là nóc nhà thế giới. Bình yên Annapurna.
Xem thêm >

Theo Thủy Trần (báo Tuổi Trẻ)

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Dập dềnh hồ Khe Chảo

(BGĐT) - Âu cũng là theo chân Đội chiếu bóng lưu động của Công ty Phát hành phim và Chiếu bóng tỉnh Bắc Giang mà tôi mới được đến hồ Khe Chảo, xã Long Sơn - một trong những thắng cảnh của huyện vùng cao Sơn Động mà tôi hằng mong ước. Vâng, Khe Chảo chứ không phải là Khe Chão như một số người viết và nói. Hồ nhân tạo này mới có 11 năm.

Anh cán bộ xã Long Sơn cho chúng tôi biết, trước đây các con suối từ núi chảy ngang dọc, lãng phí nước; lúc cần, nước không có hoặc không đủ, lúc không cần, nước lại tràn bờ tràn bãi.

Long Sơn có 6 sông suối nhỏ nhưng phần lớn là đầu nguồn nên suối và lòng sông đều hẹp, lại ở độ dốc lớn, bởi vậy ít giữ được nước về mùa khô.

Vì thế hồ Khe Chảo thực sự là công trình để đời, góp phần lớn vào việc xoá đói giảm nghèo cho hơn 5300 người dân Long Sơn với 9 dân tộc quần tụ. Từ ngày có hồ Khe Chảo với diện tích mặt nước 27 héc ta, đất nông nghiệp của xã đã được tưới tới 2/3 diện tích, đưa sản xuất từ 1 vụ lên 2 -3 vụ, đời sống người dân được nâng cao. Long Sơn hiện có vài chục hộ đạt mức thu từ 100 đến 300 triệu đồng, cá biệt tới 400 triệu đồng.

Long Sơn bao năm vào diện nghèo, đặc biệt khó khăn. Với diện tích 6.480ha, trong đó đất rừng, đồi núi chiếm tới gần 70%, người dân Long Sơn chỉ trông cậy vào rừng và hơn 700 héc ta đất trồng trọt. Khi không làm chủ nguồn nước cho cây trồng, dân nghèo là lẽ tất nhiên. Những năm đầu 90 của thế kỷ trước, Long Sơn là xã dẫn đầu Sơn Động di cư vào Nam.

Đến nay ở xã Hà Bắc, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk có hẳn một thôn là người Long Sơn. Từ ngày có hồ Khe Chảo với diện tích mặt nước 27 héc ta, đất nông nghiệp của xã đã được tưới tới 2/3 diện tích, đưa sản xuất từ 1 vụ lên 2 - 3 vụ, đời sống người dân được nâng cao. Long Sơn hiện có vài chục hộ đạt mức thu từ 100 đến 300 triệu đồng, cá biệt tới 400 triệu. Đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế giỏi: Nuôi trồng thuỷ sản, kinh tế vườn đồi, chuyển đổi cây trồng, dịch vụ thương nghiệp... Long Sơn cũng là xã điểm của huyện về xây dựng nông thôn mới. Hiện giờ, xã đã đạt 12/19 tiêu chí. Đó là sự vươn lên vượt bậc mà cách đây không lâu khó ai dám nghĩ tới.

Lên chiếc thuyền máy, tôi dạo quanh khắp hồ. Gió từ khe núi tràn tới mát rượi. Nước hồ trong vắt, xanh như mực, nhè nhẹ vỗ sóng. "Chỗ này ngày xưa không khác gì như lòng chảo, gọi là Khe Chảo từ núi cao đổ xuống, sâu lắm, giờ đo là 28 mét". Anh cán bộ xã ngồi bên bảo vậy. Hồ trải rộng trước mặt, men theo chân núi vòng vèo, in bóng núi đồi với cây xanh ngắt rộng dài. Nấp trong những cây rừng là các con suối róc rách chảy như thực như hư; nghe như tiếng gió thoảng lại như tiếng reo khe khẽ. Một đàn cò từ đâu đó bay là sát mặt nước rồi vội vã vút lên cành cây.

Không gian thoáng đãng lạ lùng. Hồ Khe Chảo đâu chỉ là công trình thuỷ lợi mà còn là nơi điều hoà khí hậu cho cả vùng, là nơi phát triển thuỷ sản và là khu du lịch sinh thái. Phải, Khe Chảo chắc chắn sẽ là điểm du lịch hấp dẫn. Bao bọc hồ là núi cao với rừng cây dày đặc - những dẻ, de tái sinh, những thú rừng còn sót lại - được bảo vệ nghiêm ngặt.

Khe Chảo lại nằm ven đường từ An Châu (Sơn Động) tới Hoành Bồ (Quảng Ninh), giữa một nơi yên ả, thanh bình. Đã hiện diện dù sơ khai một nơi thu hút khách. Một nhà quán trên đập. Đôi nhà lợp lá nằm chân núi. Đôi ba chiếc thuyền dập dềnh chờ khách. Vài ba bè nuôi cá lồng ven bờ...

Sơn Động đã có Khe Rỗ, Đồng Cao, Hang Vua; có thác Ba Tia, có khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử... và chục năm lại đây có hồ Khe Chảo, thực sự làm nên vẻ đẹp hấp dẫn cho bao du khách gần xa và đó cũng là tiềm năng lớn cho huyện rẻo cao này.
Xem thêm >

Theo Đỗ Nhật Minh (Báo Bắc Giang)

Đại Nội Huế

Nằm ở bờ Bắc dòng sông Hương thơ mộng, Kinh thành Huế được xây dựng trên một mặt bằng diện tích hơn 500ha, bao gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, được gọi chung là Đại Nội. Đây là trung tâm hành chính, chính trị của triều đình nhà Nguyễn và là nơi sinh hoạt của nhà vua và hoàng gia. Đại Nội Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới từ năm 1993.

Từ thế kỷ XVI, do biến động lịch sử của dân tộc, nên trong nhiều cộng đồng người Việt, người Chăm và các dân tộc khác đã diễn ra một làn sóng di dân liên tục mà tiêu biểu là cuộc "Nam tiến" lớn nhất do chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ trên đất Thuận Hoá năm 1558.

Trên nền tảng vật chất và tinh thần đã được hình thành ở Huế từ đầu thế kỷ XIV, các chúa Nguyễn (thế kỷ XVI-XVIII), triều đại Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và các vua Nguyễn (1802-1945) đã tiếp tục phát huy và gây dựng ở đây một tài sản văn hoá vô giá. Tiêu biểu nhất là Quần thể di tích Cố đô Huế đã được ghi vào danh mục Di sản Văn hoá Thế giới của UNESCO.

< Cửu Đỉnh đặt ở trước Hiển Lâm Các.

Hệ thống Đại Nội Huế

Hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn là ba tòa thành: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc.

Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh...


< Cổng Ngọ Môn, một trong những biểu tượng của Cố đô Huế.

Ðại Nội, bao gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, có hơn 100 công trình kiến trúc đẹp ở nhiều khu vực khác nhau với các chức năng khác nhau. Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833, mọi việc mới được hoàn tất.

Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m, có 4 cổng ra vào với cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Trong đó, độc đáo nhất và thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô là Ngọ Môn, khu vực hành chính tối cao của triều đình nhà Nguyễn. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy.

Những khu vực trọng yếu của Hoàng Thành bao gồm: Khu vực phòng vệ, Khu vực cử hành đại lễ, Khu vực miếu thờ, Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua, Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí... Ngoài ra, còn có kho tàng (Phủ Nội Vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia.

Khu vực quan trọng và rộng lớn nhất là Tử Cấm Thành xây dựng gần vuông, mỗi cạnh trên dưới 300m, vòng tường chung quanh cao 3,5m. Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến trúc, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều), điện Càn Thành (chỗ ở của vua), cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý Phi), lầu Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương), nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường (nhà hát hoàng cung)…

Mặc dù có rất nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành nhưng tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm.

Tuy quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu “trùng lương trùng thiềm”, hay còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” – kiểu nhà kép hai mái trên một nền, đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói thanh lưu ly (nếu có màu xanh) hoặc hoàng lưu ly (nếu có màu vàng). Các cột được sơn thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây). Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời.

Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong là khu vực cực kỳ trọng yếu, được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ nguyên tắc (tính từ trong ra): “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”. Ngay cả trong các miếu thờ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự “tả chiêu hữu mục” (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian).

Bảo tồn công trình kiến trúc triều Nguyễn

Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.

Công trình Đại Nội Huế biểu hiện sự kết tinh về thẩm mỹ nghệ thuật, ý thức, về sự giao cảm giữa thiên nhiên, môi trường và con người. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa được coi là việc làm cấp thiết. Bảo tồn di tích kiến trúc nhằm hướng đến giữ gìn, bảo lưu và chuyển giao một cách toàn diện, đầy đủ và chân xác các giá trị hữu hình và vô hình của tài sản văn hoá kiến trúc cho thế hệ mai sau.

Kể từ khi được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới đến nay, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã trùng tu, phục hồi được 132 công trình, hạng mục di tích tiêu biểu. Trong đó có Ngọ Môn, Điện Thái Hoà, Hiển Lâm các, cụm di tích Thế Miếu, cung Diên Thọ, Duyệt Thị Đường, cung Trường Sanh, hệ thống trường lang Tử Cấm Thành, Minh Lâu, điện Sùng Ân, Hữu Tùng Tự, Bi Đình (lăng Minh Mạng); điện Hoà Khiêm, Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Điện (lăng Tự Đức); Thiên Định Cung, Bi Đình (lăng Khải Định), chùa Thiên Mụ, cung An Định, các cổng của kinh thành Huế...

Hầu hết các di tích đều được bảo quản cấp thiết, bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hóa... Nhờ vậy, trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt xảy ra liên tiếp, các di tích vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổi thọ.

Bên cạnh việc trùng tu, bảo tồn kiến trúc, gần đây, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã triển khai thêm nhiều hoạt động văn hóa tại Khu di tích Đại Nội Huế.

Du khách có thể tham gia đêm Hoàng cung được tổ chức định kỳ vào thứ Bảy hàng tuần. Toàn bộ khung cảnh Đại Nội ngập tràn ánh sáng, tái hiện lại những họat động văn hóa nghệ thuật độc đáo của cung đình xưa. Trong đó nổi bật có lễ Đổi gác tại Ngọ Môn diễn ra từ 09h00 đến 09h30 hàng ngày. Hoạt động văn hóa mới này sẽ nhằm giới thiệu đến với du khách một trong những nghi thức trong triều đình xưa, đồng thời tạo điểm nhấn du lịch mới.

Cùng với lễ Đổi gác, các hoạt động khác như biểu diễn Đại nhạc tại sân Thế Miếu từ 09h00 đến 11h00 (sáng) và 14h30 đến 16h30 (chiều), hay biểu diễn Tiểu nhạc tại điện Thái Hòa từ 08h00 đến 10h30 (sáng) và từ 14h00 đến 16h00 (chiều) cũng được tổ chức hàng ngày.

Đến nay, trải qua bao biến động và thời gian, nhưng với tư cách là tài sản vô giá của dân tộc, là thành quả lao động của hàng vạn người trong suốt một thời gian dài, Khu di tích Đại Nội vẫn luôn là một công trình lịch sử minh chứng cho sự tồn tại của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

Theo Thanh Thủy (Quehuong online)

Về Sóc Trăng ăn bánh nắn

(TBKTSG Online) - Cũng như những miền quê khác ở Tây Nam bộ, đất Sóc Trăng chằng chịt kênh rạch dọc ngang; ven bờ sông rạch, lá dừa nước mọc ken dày tạo nên một màu xanh ngút tầm mắt. Mọc chen trong các đám lá dừa nước ngoài các loại cây thân gỗ như bần, vẹt, quao, dái ngựa… còn có những loài dây leo như cóc kèn, dây choại… đặc biệt là dây mơ rừng.

Có lẽ ngay từ những ngày đầu khai mở vùng đất mới, người miền quê đã biết tận dụng những thứ có sẵn để chế biến các món ăn chơi, vừa ngon miệng, vừa tăng thêm dư vị cho cuộc sống hàng ngày. Người ta đốn lá dừa nước, hái những lá mơ mọc hoang ấy về nhà để làm một thứ bánh đơn giản nhưng rất độc đáo, gọi là bánh nắn lá dừa nước.

Gạo lúa mùa đem ngâm cho mềm, xay bột rồi bồng lại và dằn khô. Hái mấy nắm lá mơ rửa sạch, cho vào cối dùng chày đâm nát, rồi chế nước xâm xấp vào để vắt, lược bỏ xác. Đem nước ấy, cùng với ít nước đường đã hoa tan cho vô bột đã xay để nhồi. Đến khi bột mềm, dẻo vừa tay nắn là được.

Lá dừa róc ra từ sống lá cắt bỏ đầu đuôi cho gọn, đẹp. Dùng tay cạo bỏ những chỉ đỏ phía trong rồi rửa, lau sạch. Dùng bột đã chuẩn bị nắn lên những chiếc lá đó. Được hai ba chục lá thì đem hấp.

Người ta bắc nồi nước lớn, phía trên lật úp chiếc rế nhắc nồi còn mới (rế nhắc nồi đan bằng tre, dùng để đặt nồi cơm, nồi canh cho đừng dính lọ, vì nồi nấu bằng củi, rơm nên đáy nồi có nhiều lọ) rồi để lá bánh lên trên hấp cách thủy. Lửa lớn, nước sôi, hơi nước bốc lên làm cho bánh chín.

Trong khi hấp bánh, người ta chuẩn bị thắng nước cốt dừa. Dừa khô nạo lấy cơm, vắt nước cốt, bắc chảo thắng. Người ta thêm ít bột mì, ít đường, muối để nước cốt sền sệt và tăng thêm hương vị.

Bánh chín đem ra để âm ấm rồi dùng tay gỡ bánh ra khỏi lá. Sắp những dây bánh có mầu xám đen vào dĩa, chan nước cốt lên, rắc thêm ít đậu phộng rang đâm nhuyễn là đã có được món ăn vừa đậm đà, ngon miệng lại no lòng. Mùi vị riêng của lá mơ hoà vào bột, bột lại nắn trên lá dừa nước còn tươi đã tạo thành một thứ bánh đầy quyến rũ miền thôn dã.

Loại bánh này khiến người đi xa nhớ mãi câu ca dao xưa:

Phảng phất hương vị quê mùa
Bánh nắn lá chan nước cốt dừa khó quên.
Xem thêm >

Theo Thạch Ba Xuyên (The Saigon Times)

Thành cổ Đồng Hới

(Quangbinh.gov) - Thành Đồng Hới có tên chữ là Định Bắc Trường Thành, tọa lạc trên một vùng đất xung yếu, là chốt độc đạo trên con đường xuyên Việt từ Bắc vào hay Nam ra.

< Quảng Bình Quan.

Thành gần biển, cách cửa biển Nhật Lệ 1.5km. Phía Đông là con sông Nhật Lệ, phía Tây cách rừng khoảng vài nghìn mét. Thành nằm ở phường Hải Đình, trung tâm thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đây là di tích kiến trúc - nghệ thuật thành luỹ quân sự.

< Đến nay, Thành chỉ còn 1.087m. Đoạn thành phía Nam còn lại 2/3 tương đối nguyên vẹn.

Thành Đồng Hới được khởi công xây dựng từ năm Gia Long thứ 16 (1812) bằng đất. Thành được xây ngay trên mảnh đất xưa kia chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho xây bức luỹ Trấn Ninh (luỹ Đào Duy Từ 1631) và đồn Động Hải 1774.

Tám năm sau khi Gia Long mất, Minh Mạng nối ngôi, ông đã nhờ một sĩ quan người Pháp thiết kế lại thành Đồng Hới và xây lại bằng gạch (1824) theo kiểu vô băng, thành luỹ quân sự, thành có kiến trúc đẹp, hình múi khế, 4 múi to, 4 múi nhỏ, 4 múi nhỏ theo hướng Tây Nam - Đông Bắc và Tây Bắc - Đông Nam.

Chu vi thành 465 trượng (1.860m), cao 1 trượng (4m). Mặt thành rộng 1m35, móng thành dày 2m. Mặt chính của thành quay về hướng Tây. Thành có 3 cổng lớn Bắc - Nam - Đông, trên cổng có vọng canh 8 mái. Cổng thành xây uốn kiểu tam quan thông ra ngoài bằng chiếc cầu gạch cũng xây kiểu vòm cuốn xinh xắn.

Ngoài thành cách chân thành khoảng 5 - 6m là hào rộng 7 trượng (28m) nay còn lại khoảng 15-20m. Mặt trong thành đắp đất phụ thêm dày 3 trượng (12m). Phần đắp đất phụ này hầu hết đã bị san phẳng còn lại dấu tích rất ít.

Thành xây bằng gạch, vữa bằng mật mía trộn cát (không tô trát). Gạch có độ nung cao, loại gạch to (gạch vồ) có hai loại: 0,3m x 0,3m x 0,06m và 0,28 x 0,14 x 0,06. Các đầu múi khế là các vọng lâu và là những sở chỉ huy trực tiếp khi có các cuộc chiến đấu xảy ra.


< Cửa Đông thành cổ.

Năm 1842, Thiệu Trị lên ngôi được hai năm, ông đã đi Bắc tuần Động Hải và ra lệnh cho quan Thượng thư Bộ công và quân dân địa phương tu sửa lại thành và các luỹ cũ chắc chắn hơn.

Thành Đồng Hới ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, từ thời Lý Thánh Tông và Lý Thường Kiệt đi chinh phạt giặc Chiêm Thành (thế kỷ XI), Trần Duệ Tôn (thế kỷ XIV) Lê Thánh Tông (thế kỷ XV) đi kinh lý phương Nam.

Mảnh đất bi hùng này còn chứng kiến cuộc hành quân thần tốc của người anh hùng Nguyễn Huệ, hai lần ra Bắc chinh phạt lũ bán nước và cướp nước. Đến thế kỷ XVII trên mảnh đất thành Đồng Hới là vùng ’’phên dậu’’ tranh chấp đất đai. và quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn suốt 45 năm (1627 -1672) gây nên cảnh "nồi da xáo thịt’’, "huynh đệ tương tàn".

Thành Đồng Hới thể hiện lòng yêu nước và tinh thần quyết tâm chống thù trong giặc ngoài của người dân Quảng Bình.

Năm 1885, thực dân Pháp tấn công thành Đồng Hới nhưng nhân dân và binh sĩ vùng Động Hải đã đánh trả quyết liệt, cuối cùng thực dân Pháp phải rút lui. Do sự hèn nhát của vua, quan Triều Nguyễn, ngày 19-7-1885 thực dân Pháp tấn công thành Đồng Hới lần thứ hai, chiếm được thành dễ dàng.

Trong phong trào “Cần vương” nhân dân Đồng Hới tham gia nghĩa quân của Nguyễn Phạm Tuân chỉ huy, đã ba lần đột nhập thành Đồng Hới (tháng 1, tháng 6 và tháng 8 năm 1886) tấn công binh lính Pháp trong thành gây cho địch nhiều tổn thất.

Qua chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954) quân và dân thị xã nhiều lần tập kích quân Pháp ở trong thành gây cho chúng nhiều thiệt hại. Ngày 18-8-1954, tên Pháp cuối cùng rời khỏi thành rút xuống tàu há miệng về nước.

Ngày 16-6-1957, vinh dự cho quân và dân Quảng Bình được đón Bác Hồ vào thăm và nói chuyện. Thành Đồng Hới rợp cờ hoa và biển người đón Bác.
Thành Đồng Hới từ khi xây dựng cho đến nay luôn là trụ sở của cơ quan đầu não (của ta và của địch) và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của một vùng, một phủ và của tỉnh Quảng Bình.

Thành hiện này còn một nửa. Đoạn thành phía Đông, 3 cổng và hai cầu Nam - Bắc đã bị sập hoàn toàn do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Cầu phía Đông còn nhưng không nguyên dạng như ban đầu. Thành còn 1.087m với 15 đoạn zic zac hình răng khế. Đoạn thành phía Nam còn lại 2/3 tương đối nguyên vẹn.

Ngày nay, mỗi bước phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh nhà đều ghi thêm một trang sử mới cho di tích thành Đồng Hới. Nhiều công trình mới mọc lên nhưng không làm mất đi vẻ cổ kính của thành Đồng Hới mà trái lại càng tô điểm thêm cho toà thành cổ soi bóng bên dòng sông Nhật Lệ.

Theo web Quangbinh.gov + internet

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

Phượt: Thận trọng để an toàn.

(CAND) - 'Phượt' là cách gọi của một bộ phận giới trẻ về việc thực hiện chuyến du lịch, dã ngoại mạo hiểm với mục đích chinh phục các cung đường hiểm trở, vùng miền xa xôi, qua đó thể hiện khả năng khám phá của bản thân mình bằng các phương tiện giao thông (chủ yếu là môtô).

< Cheo leo đường vào bản xa.

Nhiều bạn trẻ đã coi phượt như là một sở thích không thể thiếu của mình. Sở thích là vậy, song vấn đề đáng lưu tâm hiện nay đó chính là việc đi kèm với thú phượt này là hàng loạt những nguy cơ đã được cảnh báo.

Không biết xuất hiện từ đâu, thời điểm nào, nhưng có điều dễ thấy, thời gian trở lại đây, thú “phượt” – du lịch mạo hiểm đã trở thành một trào lưu được nhiều bạn trẻ ưa thích. Các bạn trẻ này thường coi những chuyến đi “phượt” nhằm để thể hiện khả năng khám phá, sự vươn “khó – trở ngại” của bản thân.

Nhiều bạn trẻ đã lập ra những nhóm chuyên đi “phượt”. Chỉ cần nhóm trưởng lên tiếng, các “phượt thủ” – dân đi phượt sẽ tán thành hưởng ứng. Và rồi, những chuyến đi du lịch mạo hiểm, băng rừng, xuyên núi lại được thực hiện. “Tuấn C” – nhà ở quận Cầu Giấy (Hà Nội), năm nay 30 tuổi, nhưng đã có 6 năm làm “phượt thủ”.
Trong khoảng thời gian trên, hàng chục, hàng trăm cuộc “phượt”, chinh phục đường đèo, nơi núi cao hiểm trở… do nhóm “Tuấn C” tổ chức đã được tiến hành.

Tiếp xúc với “Tuấn C” cũng như nhiều “phượt thủ” khác ở Hà Nội, chúng tôi thấy rằng, nơi núi cao với cảnh vật hùng vĩ như: cổng trời Quản Bạ, đỉnh Lũng Cú, cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), đỉnh Phan Xi Păng (Lào Cai), đèo Pha Đin (Điện Biên – Sơn La)… hay nơi các bản làng xa xôi, đường đi lại khó khăn như: Mù Cang Chải (Yên Bái); Mường Tè, Mường Mô (Lai Châu); Hoàng Su Phì (Hà Giang) v.v... là những nơi mà các “phượt thủ” thường hướng đến và thực hiện các chuyến đi “hành xác” của mình.

Để thực hiện các chuyến đi này, ngoài công tác chuẩn bị về hành trang (phương tiện, dụng cụ sửa chữa xe, đồ dùng cá nhân…), bản thân mỗi “phượt thủ” đều xác định, một khoảng thời gian đi “phượt” nhất định, kèm với đó là những trở ngại, khó khăn về địa hình, về cuộc sống - sinh hoạt nơi mình sắp tới.

Lưu lại những bức hình về cảnh đẹp, núi non, đường đèo hiểm trở, mừng vui vì “hòa mình” với cuộc sống nơi các bản làng nghèo khó… ấy là những suy nghĩ của nhiều “phượt thủ” hiện nay. Trên các trang mạng Internet thời gian qua theo đó cũng đã xuất hiện nhiều diễn đàn, forum của các nhóm “phượt”. Hàng loạt những nội dung, tranh luận bình phẩm về các chuyến đi “phượt” theo đó được đăng tải.

Điển hình phải kể đến trang mạng có địa chỉ: www.phuotxxx. Trang mạng này do một nhóm người có sở thích “phượt” lập nên. Chủ nhân trang web luôn cập nhật những tin tức liên quan đến các thành viên thực hiện chuyến “phượt” của mình.

Đính kèm các bản tin là những hình ảnh, bài viết giới thiệu về vùng miền – địa danh mà các “phượt thủ” đã từng đi qua. Mục đích không ngoài việc “hút” thêm các bạn trẻ thích du lịch mạo hiểm tìm đến. Rồi các mẹo đi “phượt” như: cách buộc đồ trên xe, trang bị máy định vị, những dụng cụ, đồ dùng cá nhân cần thiết cho chuyến đi v.v... tất cả cũng đều được đăng tải trên trang web này.

Nhìn vào lượng khách truy cập, bình luận liên quan đến thú “phượt” trên trang web www.phuotxxx cũng như qua ghi nhận thực tế, chúng tôi được hay, thú “phượt” – du lịch mạo hiểm đang trở thành một trào lưu nở rộ hút một bộ phận giới trẻ tham gia. Điều này cũng đặt ra nhiều vấn đề đáng bàn cần phòng ngừa, tháo gỡ nhằm tránh hệ lụy không mong muốn xảy ra.

Để chứng minh những lời nói của mình về thú “phượt” luôn đem lại cảnh giác lạnh người xen lẫn niềm vui khó tả, “Tuấn C” cho tôi địa chỉ đường link trang mạng xã hội facebook nhóm “phượt” của mình. Nhấp vào đường link này, chúng tôi chứng kiến vô số hình ảnh lưu giữ về những cung đường hiểm trở đại ngàn Tây Bắc mà nhóm “Tuấn C” đã “phượt” qua. Nhìn những hình ảnh này, chúng tôi thực sự lo ngại bởi, chỉ một chút bất cẩn thôi, tai nạn rất dễ ập đến với các thành viên trong nhóm “phượt” của “Tuấn C”. Hình ảnh là vậy, còn thực tế trên những cung đường vốn được mệnh danh là “thiên đường” của các “phượt thủ” thì sao?

Vâng! Xin thưa rằng, có đi ghi nhận, có trực tiếp chứng kiến sự cheo leo, hiểm nguy của những cung đường đèo núi Tây Bắc mới thấy hết được những nguy cơ tai nạn luôn cận kề.

Cách đây không lâu, trong một lần công tác tại các huyện vùng cao Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn… của tỉnh Hà Giang, trực tiếp đi trên những con đường “sợi chỉ” cua tay áo, một bên là vách núi cao nguyên đá, một bên là vực sâu hun hút. Tại nhiều điểm đèo, sương mù lẫn với núi khiến tầm nhìn của người đi đường bị ảnh hưởng. Trời sáng đã thế, ban đêm thì càng nguy hiểm hơn.

Trên thực tế, cũng đã có một số vụ tai nạn thương tâm xảy đến với các “phượt thủ” trên các tuyến đường cheo leo này. Ngày 2/9 vừa qua, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội đã tiếp nhận và mổ cấp cứu cho anh Nguyễn T., 20 tuổi, nhà ở quận Tây Hồ (Hà Nội). Nguyên nhân trước đó, ngày 1/9, nhân dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, anh T. cùng nhóm bạn đã tổ chức đi “phượt”, leo núi ở đỉnh Lũng Cú (Hà Giang). Do đường trơn, bất cẩn, anh đã bị ngã xuống các mỏm đá...

Không chỉ bị chấn thương, có những vụ tai nạn còn khiến “phượt thủ” mãi mãi ra đi. Như theo thông tin trên cộng đồng mạng cách đây không lâu cho thấy, “phượt thủ” có thâm niên tên C.H.Đ. trong lúc từ Yên Bái trở về Hà Nội sau chuyến “phượt” dài ngày, anh đã đâm vào cột điện bên đường dẫn đến tử vong.

Bên cạnh việc tiềm ẩn nguy cơ tai nạn xảy đến với “phượt thủ” do đường đi quanh co, cheo leo, địa hình hiểm trở, nguy cơ tội phạm lợi dụng phát sinh theo đó cũng luôn rình rập. Trung tá Dương Thanh Bình, Trưởng Công an huyện Đồng Văn, địa bàn có nhiều điểm hút “phượt thủ” của tỉnh Hà Giang tỏ ra lo ngại trước thú “phượt” của một bộ phận giới trẻ hiện nay. Lẽ bởi, trong quá trình đi “phượt” - đi trên những cung đường vắng, nhất là khu vực giáp biên, nếu như không cảnh giác, chỉ một chút lơ là, người đi “phượt” rất dễ bị các đối tượng hình sự lợi dụng để tổ chức hành vi vi phạm pháp luật như: vận chuyển hàng cấm, hàng lậu…

Ví như, trong quá trình đi “phượt”, nếu không cảnh giác, dân “phượt” gật đầu đồng ý chở hộ món đồ của ai đó trên đường. Và, trong trường hợp, món đồ này là hàng cấm, là ma túy thì hành động trên cũng đồng nghĩa với việc “giúp đỡ” cho tội phạm phát sinh...

Theo Trung tá Bình, để tránh những hệ lụy không mong muốn, bản thân các bạn trẻ đang có sở thích “phượt” hiện nay cần nhận thức rõ những nguy cơ đi kèm, nhất là đối với các loại tội phạm lợi dụng “phượt thủ” hoạt động.
Xem thêm >

Theo TH (Báo Công An Nhân Dân), ảnh internet

Hành trình ngắm tam giác mạch

(iHay) - Cứ vào tháng 10, các bạn trẻ lại bắt đầu hỏi nhau “Khi nào tam giác mạch nở?”. Hành trình đến với Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng - ba địa danh nổi tiếng với "loài hoa" tam giác mạch - trở nên nóng hổi trên các trang mạng xã hội.

< Hoa tam giác mạch.

Tam giác mạch đang dần nhuộm hồng những thung lũng đá tai mèo ở Hà Giang. Nếu bạn thực sự yêu mến và mong muốn khám phá vẻ đẹp của vùng đất địa đầu Tổ quốc, hãy sắp xếp cho mình một lịch trình thật hoàn hảo.

< Đẹp như những bức tranh trong cổ tích.

Hoa tam giác mạch là đặc sản độc đáo của đồng bào Mông ở vùng đất cực Bắc Hà Giang. Thật khó có thể tin loài cây nhỏ bé với những chiếc lá xanh non và từng chùm hoa e ấp này lại là lương thực cứu đói cho đồng bào những ngày giáp hạt, tạo nên món bánh tam giác mạch có hương vị thật đặc biệt.

Chỉ trổ hoa trong khoảng một tháng, từ cuối tháng 9 đến cuối tháng 10 Âm lịch, nhưng mỗi khi nở rộ, những cánh đồng tam giác mạch nhuộm cả thung lũng, choàng lên triền núi một màu trắng phớt hồng, đâu đó điểm thêm sắc tím đậm đà, khiến cho bất cứ ai đi qua cũng không khỏi thấy lòng ngây ngất.


< Hành trình ngắm tam giác mạch qua con đường Hạnh Phúc và đèo Mã Pí Lèng hùng vĩ thách thức các tay lái.

Như một lời hẹn, sau mùa lúa chín vàng óng khắp Tây Bắc, mùa hoa tam giác mạch lại về. Trên các diễn đàn của những người yêu du lịch, lời mời gọi hối hả của những người bạn lại thôi thúc ta lên đường ngắm loài hoa đẹp như cổ tích này.

Lịch trình, cung đường

< Bản đồ cung đường dọc quốc lộ 4C qua các xã trồng nhiều tam giác mạch ở Đồng Văn (tương ứng với các điểm màu xanh trên bản đồ).

Bạn hoàn toàn có thể thiết kế cho mình một hành trình ngắm hoa an toàn và đáng nhớ. Với hành trình hơn 350km từ Hà Nội đến Hà Giang, bạn nên đi xe khách để đảm bảo không gặp phải bất cứ rủi ro nào trên đường dài với nhiều đèo dốc mù sương.

Từ bến xe Mỹ Đình, có rất nhiều xe khách chất lượng cao chạy suốt đêm để bạn lựa chọn. Buổi sáng có mặt tại thành phố Hà Giang, từ đây bạn có thể thuê xe máy hoặc tiếp tục đón xe khách lên thị trấn Đồng Văn.

Điểm ngắm hoa

< Tam giác mạch bạt ngàn triền núi ở Ma Lé.

Những điểm ngắm hoa tuyệt vời nhất đều nằm dọc quốc lộ 4C trên địa phận huyện Đồng Văn. Các xã như Phố Là (đường vào thị trấn Phó Bảng), thung lũng Sủng Là (nơi có phim trường Chuyện của Pao) đều có những thửa tam giác mạch tuyệt đẹp xen lẫn sa mộc và ngô.


< Uốn lượn quanh những phiến đá tai mèo.

Khu vực từ ngã ba Sà Phìn (Dinh nhà Vương) lên cột cờ Lũng Cú qua Lũng Táo có nhiều ruộng trồng hoa với diện tích lớn hơn. Đặc biệt, những người đã từng đến đây chắc chắn không thể quên triền núi bạt ngàn tam giác mạch ở thôn Mã Lầu, xã Ma Lé. Từ Lũng Cú xuôi về Đồng Văn qua ngã ba Khèn vẫn còn rải rác những luống tam giác trên đường.

Ở huyện Yên Minh, khu vực các xã Đường Thượng, Bạch Đích, Phú Lũng đồng bào trồng nhiều tam giác mạch. Cung đường Hoàng Su Phì – Xín Mần cũng góp thêm cho bản đồ tam giác mạch một điểm ngắm hoa thú vị.

Khách sạn, nhà nghỉ

< Thung lũng Sủng Là, một trong những điểm ngắm hoa đẹp.

Khách du lịch nên nghỉ lại những khu vực trung tâm như thành phố Hà Giang, thị trấn Đồng Văn, trị trấn Mèo Vạc. Tại đây có khá nhiều nhà nghỉ bình dân nhưng những dịp cuối tuần trong thời gian cao điểm này thường rất đông, có khi “cháy” phòng.

Bạn cần chú ý sắp xếp lịch trình để có thể có nơi nghỉ chân trên đường, có thể xin ngủ nhờ nhà dân khi cần thiết.

Ăn uống

< Mênh mông tam giác mạch Hoàng Su Phì – Xín Mần.

Hành trình ngắm tam giác mạch chắc chắn không thể thiếu đi những món ăn đặc trưng của vùng cao. Tại các thị trấn như Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn đều có nhiều quán ăn phục vụ những món độc đáo như thịt trâu khô, lạp xưởng, gà mèo, cải ngồng...

Nhưng có lẽ món ăn tuyệt nhất vẫn là bát thắng cố ăn bằng muôi gỗ ở phiên chợ Đồng Văn hay Mèo Vạc. Tại đây, các bạn hãy tìm mua bánh tam giác mạch để hành trình ngắm hoa thêm hoàn hảo.

Lưu ý

< Khung cảnh nên thơ với bóng người đi chợ sớm.

Tam giác mạch là lương thực của đồng bào, tuyệt đối không nên đi vào ruộng làm hư hại hoa tam giác mạch, nên xin phép cẩn thận chủ ruộng trước khi chụp ảnh.

Trước khi vào các làng bản cần tìm hiểu kỹ phong tục của người địa phương, cư xử lịch sự.

Chú ý bảo vệ môi trường.

Bạn nên chuẩn bị đầy đủ đồ bảo hộ, quần áo ấm nếu đi bằng xe máy. Khi đi theo đoàn, trưởng đoàn cần kiểm soát chặt các thành viên, đặc biệt trên những con đường đèo nguy hiểm.
Hãy là những lữ khách có ý thức để hành trình ngắm hoa thật hoàn hảo nhé!
Xem nguồn >

Theo Trường Giang (iHay.Thanhnien)

Bài đăng phổ biến