Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Khu tưởng niệm nhà mồ Ba Chúc

1.159 xương cốt của những người dân Việt Nam vô tội đã bị giết hại dã man thời Pôn Pốt đang được bảo quản tại khu nhà mồ Ba Chúc, thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn (An Giang).
Nhà mồ Ba Chúc 
Cách thị trấn Châu Đốc hơn 40 km về phía Tây Nam, Nhà mồ Ba Chúc mang vẻ trầm lặng bao chùm lên những chứng tích đau thương còn lại thời kỳ diệt chủng Pôn Pốt.
Theo sử sách ghi chép lại, không khí hoà bình ở đây chưa được bao lâu thì lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh diệt chủng do Pôn Pốt gây ra. Sau 11 ngày đêm bị chiếm đóng (18/4 - 30/4/1978), xã Ba Chúc bị dìm trong biển máu. 3.157 dân thường Ba Chúc, vùng quanh Núi Tượng và Núi Dài đã bị quân Khmer Đỏ thảm sát (trong tổng số 16.000 dân xã Ba Chúc).
Phần lớn nạn nhân bị sát hại vào ngày 18/4/1978, khi một toán quân Khmer xâm nhập dồn hết dân làng vào các ngôi chùa và trường học rồi thảm sát. Những người sống sót trốn được vào núi Tượng, tuy nhiên họ bị phát hiện ra vài ngày sau. Phần lớn nạn nhân bị bắn, chém, chặt đầu. Nhiều phụ nữ bị hãm hiếp, bị đóng cọc vào chỗ kín, trẻ em thì bị đâm lê trước khi giết chết hoặc xé đôi người, nắm hai chân đập đầu vào gốc cây.
Xương cốt nạn nhân được phân chia theo độ tuổi
Khu nhà mồ tĩnh lặng có hình lục giác, mỗi góc là một trụ cột đỡ mái nóc nhà bằng hình tượng bàn tay cầm chuôi kiếm đẫm máu. Chính giữa là khung hộp kiếng 8 cạnh bằng nhau, chứa đựng 1.159 xương cốt.
Được biết, để kéo dài tuổi thọ những bộ xương này, ngành chuyên môn phải dùng sáp nấu sôi áo bên ngoài xương tránh oxy hóa, dùng vật chống ẩm. Tuy nhiên, số hài cốt nói trên có hiện tượng ngả màu và mục ở phần xương sụn và xương trẻ em nên năm 1989 Sở Văn hoá và Bảo tàng An Giang đã tiến hành lấy số hài cốt này ra làm vệ sinh, lau chùi, ngâm tẩm hoá chất rồi phơi khô.
Bảng tội trạng của Pôn Pốt

Theo lời của Bảo vệ thì ngày càng có nhiều du khách tới tham quan, nhất là vào 16/3 âm lịch hàng năm nhiều du khách thập phương tới dự giỗ tưởng niệm người đã chết có tên Ngày giỗ hội căm thù.

Kỹ nghệ giết người tàn ác
Lịch sử nước Việt thời kỳ nào cũng nhiều nước mắt, đau thương, với rất nhiều vụ mà kẻ thù thảm sát người dân. Trong đó, vụ thảm sát Ba Chúc của “tập đoàn ác thú” Pol Pot, gây rúng động cả thế giới loài người. PV Báo điện tử VTC News đã dành nhiều ngày cùng sống với những người còn sót lại của vụ thảm sát ở vùng đất này, để ghi lại tội ác tày trời mà bọn ác thú Pol Pot đã gây ra cho người dân vô tội.

Mảnh đất lạnh
Đến vùng đất Ba Chúc, quả thực, không còn nhận ra nơi đây từng có vụ thảm sát kinh hoàng. Nhà cửa san sát, phố xá đông người. Trong hình dung của tôi, vùng đất Ba Chúc xác xơ, u tịch, nơi từng là một biển lửa, biển máu, biển xác người.
35 năm trôi qua, giờ chứng tích tội ác của bọn “ác thú”, và sự đau thương mất mát chỉ còn hiện diện ở khu nhà mồ, với chồng chất xương người.
Nhưng, bước chân vào mảnh đất này, vẫn có một cảm giác lành lạnh, u ám, khiến đôi chân như ríu lại. Dường như, mỗi tấc đất nơi đây, đều có xương thịt người vô tội và những oan hồn ẩn khuất chưa thể siêu thoát.
Có lẽ, ở Việt Nam, đây là thị trấn duy nhất, vùng đất duy nhất chẳng có rượu, bia, chẳng có nơi hát hò, giải trí. Vài quán ăn lèo tèo, chủ yếu là cơm chay.
Xác người dna6 bị Pôn Pốt xát hại trên cánh đồng Ba Chúc
Bóng đêm buông, ít người đi lại. Đây đó, từ ngôi nhà sang trọng đến những túp lều gianh, phát ra tiếng tụng kinh, tiếng mõ. Nhà nào ở vùng đất này cũng có người chết thảm, thậm chí chết cả nhà, cả họ, nên bao nhiêu năm nay, người còn sống tụng kinh để những oan hồn được siêu sinh tịnh độ.
Nhà mồ Ba Chúc mới bị phá, để xây dựng lại khang trang hơn. Nơi nhà mồ ấy, xương cốt sẽ được trưng bày từng bộ, rồi nhiều vật chứng cũng được bày biện để thế hệ sau thấy được sự mất mát, đau thương của thế hệ trước, là cái giá cho những ngày yên bình này.
Một ngôi nhà nhỏ, cỡ 30 mét vuông, tường kính được dựng tạm trước chùa Phi Lai. Trong ngôi nhà ấy, chất chồng xương cốt.
Ông Nguyễn Văn Tiệm, dáng người mảnh khảnh, khuôn mặt u buồn, dẫn tôi đi một vòng quanh ngôi nhà tạm chứa xương. 1.159 bộ hài cốt, trong tổng số 3.157 mạng người Ba Chúc bị Pol Pot sát hại, xếp chồng chất trong nhà mồ.
Ông Nguyễn Văn Tiệm trở thành người kể chuyện tại Ba Chúc

Đủ 1.159 hộp sọ được phân loại theo độ tuổi, bày biện trên giá thép. Trên hộp sọ in một dãy số ký hiệu. Những hộp sọ to nhỏ, với 2 hốc mắt nhìn ra ngoài u uẩn.
Ông Tiệm kể, nhiều người yếu tim, đến khu nhà mồ, nhìn những hình ảnh sọ người, đã ngất xỉu, thậm chí mất kiểm soát tâm trí như thể bị ma nhập, nên phải khênh đi nơi khác.
Ông Tiệm là cựu chiến binh, là nhân chứng sống của vụ thảm sát năm xưa. Gia đình ông ở mãi huyện Tân Châu, nằm sâu trong nội địa.
Ông lấy vợ ở Ba Chúc, rồi ở rể, tham gia dân quân chiến đấu chống Pol Pot ở vùng biên giới. Ngày đó, gia cảnh nhà ông khá giả, nên ông sắm được xe Honda 67 và cũng chính nhờ chiếc xe đó, mà gia đình ông thoát chết.
Khi quân Pol Pot quấy nhiễu dọc biên giới, bộ đội đã sơ tán dân. Đã có cả ngàn cư dân Ba Chúc được sơ tán vào trong, nhưng đi được thời gian, thấy tình hình yên ổn, người dân lại tìm về.
Những hộp sọ tại nhà mồ
Quê ông ở Tân Châu, bố mẹ vẫn ở đó, nên ông dùng xe máy chở vợ con về quê nội, rồi tiếp tục cầm súng quay lại Ba Chúc. Đó chính là lý do gia đình ông được vẹn toàn.
Nhưng, phía nhà vợ ông thì thực sự thảm khốc. Gần như đại gia đình bên vợ đều bị bọn “ác thú” Pol Pot giết sạch. Cả họ bên vợ chỉ còn lại vài mống người.
Là người chứng kiến toàn bộ cuộc thảm sát của bọn Pol Pot, nên ông được hội cựu chiến binh và chính quyền chọn làm “người kể chuyện” ở khu vực nhà mồ cho khách tham quan.

Kỹ nghệ giết người
Ông Tiệm từng tham gia gom xác, đốt xác để lấy xương, rồi cuốc đất tìm xương, lặn ngụp dưới sông vớt cốt, nên ông hiểu rất rõ về những bộ cốt trong nhà mồ. Nhìn vào mỗi hộp sọ, dù không biết đó là của ai, nhưng ông có thể thấy rõ hành động của bọn “ác thú” với những nạn nhân.
Trong số những hộp sọ trong nhà mồ, có rất nhiều hộp sọ nứt, lún, vỡ nham nhở. Chỉ từng hộp sọ, ông Tiệm có thể biết người đó chết vì bị bắn, hay bị đập bằng gậy gỗ mun, thậm chí đập kiểu gì, đập mấy nhát, lực đập và hướng đập.
Hộp sọ nứt vỡ do bị đập bởi gậy gỗ mun
Hộp sọ bị đập vỡ bởi gậy gỗ mun

Ngày đó, mỗi nhóm Pol Pot có vài tên được trang bị gậy hoặc vồ bằng gỗ mun, thứ gỗ cứng như thép, nặng như thép, dai như thép. Bọn khốn nạn đó luôn kè kè cây gậy bên mình. Cây gậy đó lấy được càng nhiều mạng người, thì chủ nhân của nó càng được tôn trọng và trong con mắt của chúng, cây gậy đó mới đáng quý.
Những cây gậy gỗ mun là thứ ám ảnh kinh hoàng với 2 triệu đồng bào Campuchia vô tội, bị bọn Pol Pot hành hình. Chủ nhân của những cây gậy này chỉ cần vung lên một lần, là một mạng người bị cướp đi một cách oan khốc.
Ông Nguyễn Văn Tiệm lọ mọ mở cánh cửa căn nhà cấp 4, gọi là Nhà trưng bày chứng tích tội ác của bọn Pol Pot. Bước vào ngôi nhà, dường như, đôi chân tôi muốn khụy xuống. Trên 4 bức tường là những hình ảnh không dành cho người yếu tim. Những xác người chất chồng chết theo tư thế thảm khốc nhất.
Gậy gỗ mun
Cây gậy gỗ mun được tiện cầu kỳ nằm im lìm trong tủ kính với dòng chữ: “Dùi: bọn Pol Pot dùng đập đầu tàn sát nhân dân Ba Chúc năm 1978”. Cây gậy gỗ mun nặng trịch này giải mã cho cái chết của hàng ngàn nạn nhân Ba Chúc, hàng triệu người dân vô tội Campuchia, mà chứng tích để lại là những hộp sọ với 3 vết nứt chạy đều gặp nhau ở đỉnh sọ.
Trong chiếc tủ kính ấy, còn nhiều gậy nữa. Khúc tầm vông chỉ bằng cổ tay người lớn, dài cỡ 1m, nhưng nó đã giết hại vô số trẻ em vô tội. Bọn ác thú dùng khúc tầm vông vụt vào gáy, khiến những em nhỏ chết ngay tức khắc. Cú vụt của chúng mạnh đến nỗi, những hộp sọ trẻ em đều nứt một đường ngang, làm vỡ đôi hộp sọ, tách nửa trên với nửa dưới.
Nhưng, đau xót và căm phẫn nhất, là cây gậy tầm vông nhọn hoắt một đầu. Bất cứ một con người lương tri nào trên thế giới này, khi nhìn cây gậy, nhìn những tấm hình treo trên tường, và nghe lời thuyết minh của ông Tiệm, đều không khỏi phẫn uất, rùng mình. Những kẻ lạc loài ở bên kia biên giới đã dùng những cây gậy nhọn này thọc vào chỗ kín của phụ nữ, xuyên tận lên đến cổ.
Tội ác như thế này, loài người trên thế gian, có thể tin được không? Một cảm giác uất hận cứ nghèn nghẹn nơi cổ họng.

Đồi Tức Dụp - ngọn đồi 2 triệu đô la

Đồi Tức Dụp - huyền thoại và lịch sử
Tức Dụp thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, là một ngọn đồi của dãy núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn), cách Thị trấn Tri Tôn vài ki-lô mét. Tuy là một ngọn đồi nhỏ, cao khoảng 300m, nhưng có địa hình hiểm trở, với nhiều tảng đá dựng cheo leo tạo thành những lò ảng (hang trên núi) ăn luồn nhau như tổ ong. Nhờ đặc điểm ưu việt này, Tức Dụp còn được mệnh danh là ngọn đồi “2 triệu đôla” là giá trị của bom đạn mà Mỹ cương quyết ném xuống để san bằng ngọn đồi, bất lực trước tinh thần kháng chiến dũng cảm và mưu trí của quân dân An Giang, Tức Dụp đã trở thành một căn cứ kháng chiến nổi tiếng trong thời kỳ chống Mỹ.
Đồi Tức Dụp
Truyền thuyết về một ngọn đồi
Tương truyền, trong đêm trường hoang mạc của đất trời, các nàng tiên giáng thế ngự trên đỉnh Cô Tô dạo chơi, tắm giặt và hay trêu đùa cùng nhau bằng các trò như ném đá, tạt nước.. đã làm cho các hòn đá rơi chồng chất lên nhau thành ngọn đồi, bên trong đồi là lòng lò ảng với chi chít hang động, như một tổ ong vĩ đại mà các vòm thông nhau bởi muôn ngàn ngõ ngách và kẹt đá. Những dòng nước trêu đùa của các nàng tiên trở thành dòng suối đã chạy qua lòng đụng đá rơi, gọi là dòng suối Thâm-mơ Đâm-ray, từ đó tại nơi này suối và đồi có mặt và nằm bên chân núi Cô Tô bạt ngàn trong dãy Thất Sơn hùng vĩ, tự hàng nghìn năm, núi đồi vẫn thế.
Qua nhiều thế kỷ, nhiều người tìm đến vùng này khẩn hoang mở đất. Với cái nóng cháy da của mùa hạn, với cơn khát nước đến thiếp đi vì thiếu nước, trong cơn mơ các cụ tổ đã nghe tiếng róc rách của suối và khi tỉnh giấc cũng là lúc bình minh rực sáng bên kia ngọn đồi. Từ cái đêm khô khát, các cụ tổ đã tìm ra nguồn nước và ngọn đồi có nguồn suối chảy qua, được gọi là đồi Tức Dụp, theo tiếng Khmer gọi là Nước Đêm.
Tức Dụp và hang kháng chiến trong lòng Đồi
Thuở ban sơ, đồi Tức Dụp không dấu chân người, trong lòng lò ảng là nơi trú ẩn của thú rừng, trên ngọn đồi với vô số các loài dây leo, chùm gởi rất u minh thanh vắng. Khi Tức Dụp đã hình thành làng mạc, phum sóc, thì người dân nơi đây gọi ngọn đồi Tức Dụp là ngọn Đồi Thiêng - nơi cho nguồn nước của Trời - một trong những yếu tố để duy trì sự sống của vạn vật và các loài thú rừng, chim muông. Vào các ngày lễ hội, các già làng, sư sãi thường mang lễ vật đến tế cúng thần linh, trời đất, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng sung túc.
Lịch sử đấu tranh của người con vùng Bảy Núi
Gánh trên đôi vai sứ mệnh của dân tộc, những người con của Tức Dụp đã trỗi dậy đánh giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc. Trong suốt thời gian dài từ những năm 30-40 của thế kỷ XX, Tức Dụp đã mang trong mình một ngọn lửa đấu tranh của cách mạng. Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, có biết bao người đặt chân lên ngọn đồi Tức Dụp - họ là những chiến sĩ cộng sản hoạt động trong suốt thời gian dài và được địa hình hiểm trở nơi đây yểm trợ, nên bọn thực dân Pháp và bọn tay sai không phát hiện được nơi trú ẩn của các chiến sĩ cách mạng và cũng không dám càn quét, truy lùng. Và đến đầu những năm sáu mươi, Tức Dụp đã trở thành thành lũy vững chắc – là căn cứ địa cách mạng. Tuy là ngọn đồi nhỏ, nhưng nó là điểm đỏ trong bản đồ quân sự của Mỹ ngụỵ: chúng cho rằng, Tức Dụp là “nơi trú ẩn của bọn đầu sỏ Việt Cộng tỉnh Châu Đốc”. Quả là không sai, nơi đây chính là nơi hội họp, liên lạc, ăn nghỉ, là kho vũ khí, đạn dược, lương thực, trạm quân y... Tức Dụp là cơ quan làm việc của hàng trăm chiến sĩ cộng sản Tỉnh ủy An Giang, huyện Tri Tôn, nơi tránh bom rơi, đạn nổ, nơi trú ngụ của những người vợ theo chồng, những người con theo cha đi đánh giặc và cũng là nơi mà những người chiến sĩ cộng sản đã nằm lại mãi mãi trong lòng đất mẹ.
Mô hình họp bàn triển khai chiến dịch kháng chiến
Nói sao cho hết được tầm quan trọng của ngọn đồi lịch sử, ký ức hào hùng của đồi Tức Dụp vào thời kỳ ấy! Tức Dụp là chiếc cầu quan trọng cõng các binh đoàn từ miền Bắc vào Nam, bằng hành lang biên giới đất bạn Campuchia vào miền Tây Nam bộ, để làm nên những chiến thắng lẫy lừng, vậy là trong chiến công đó có sự đóng góp không nhỏ của chiếc cầu nối Tức Dụp, của vùng Thất Sơn hùng vĩ. Và cũng chính nơi đây đã nuôi dưỡng những nhân tố quan trọng, nhất là đào tạo, bồi dưỡng biết bao cán bộ nòng cốt trong thời kỳ đấu tranh nóng bỏng, trong cuộc tổng tấn công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
Sau Tết Mậu Thân 1968, bọn giặc đã tập trung đánh phá vào các làng mạc, thôn xóm và Tức Dụp cũng không ngoại lệ. Bằng những cuộc không kích trực thăng và đạn pháo, quân đội Mỹ đã trút giận xuống Tức Dụp và các vùng lân cận, làm cho nhiều đồng bào bị thiệt mạng, số còn lại sống trong cảnh màn trời chiếu đất và Tức Dụp đã gồng mình đội pháo, chịu bom với hàng ngàn tấn thuốc nổ, trong đó có các loại đạn pháo chuyên dùng có sức công phá dữ dội nhất, đã làm cho 2.000m2 đất của ngọn đồi không nơi nào mà không có dấu vết của bom đạn. Tấm áo thiên nhiên màu xanh của đồi Tức Dụp đã rụi tàn, Tức Dụp trơ trụi, trên mình không còn ôm lấy một sợi dây leo hay một màn rêu mỏng. Tức Dụp chỉ duy nhất còn lại trong lòng ngọn núi những chiến sĩ cách mạng kiên trì bám trụ trong hang động một lòng đội pháo chịu bom, quyết trụ lấy địa bàn chiến đấu.
Đường đi quanh đồi đến các hang kháng chiến
Và những cuộc chiến không cân sức
Chiến lược bình định của Mỹ Ngụy, năm 1968, chúng dồn dân vào ấp chiến lược để chiếm địa thế tấn công Tức Dụp. Quyết không chịu bỏ nhà cửa ruộng vườn, người dân nơi đây đã chống cự và bọn giặc gây ra bao cảnh đau thương, chết chóc, nhưng với thế lực và vũ khí hùng mạnh, bọn chúng đã xóa sạch các phum sóc, bọn Mỹ ngụy do Trung tướng Mỹ Ét-ca đã đưa 18.000 quân bao vây chiếm đánh đồi Tức Dụp. Với tuyên bố “Chiếm tam giác sắt Củ Chi mà chưa chiếm được Thất Sơn, trong đó có căn cứ quan trọng của cộng sản là Tuk Chup, thì coi như người Mỹ chỉ mới đứng một chân; đối phương sẽ hất người Mỹ ra khỏi đất nước Việt Nam lúc nào không biết”.
Trong suốt 128 ngày đêm, đến cuối tháng 3.1969, phía Mỹ ngụy có Sư đoàn 9, Sư đoàn 21 bộ binh luân phiên trực chiến, quân cơ động thuộc căn cứ Ba Xoài, và quân trường Chi Lăng, các tiểu đoàn địa phương quân, nhiều tiểu đoàn Biệt động quân, Biệt kích dù, Biệt kích Mỹ, hai Tiểu đoàn quân Đại Hàn, một Thiết đoàn M.113 (36 chiếc) một Lữ đoàn pháo binh với 6 trận địa pháo 105 ly đến 155 ly, 12 khẩu đại bác đặt ở các vùng lân cận ngày đêm bắn phá vào Tức Dụp. Trên không với hàng trăm phi vụ ném bom của pháo đài B52, B57, F4...
Quái vật B-52
Phía quân cách mạng chỉ không đầy 40 người còn trong hang đồi Tức Dụp, trong đó bao gồm những người phục vụ chiến đấu của Huyện đội và Huyện ủy Tri Tôn, cùng với vũ khí là lựu đạn do công trường Cây Mít – Cô Tô cung cấp; các chiến sĩ được trang bị súng trường, tiểu liên, trung liên vài khẩu B40 cùng với một số chiến lợi phẩm.
Cuộc chiến đấu không cân sức đã diễn ra vô cùng ác liệt, ta và địch chiến đấu giành từng hang động. Chúng liên tục huấn luyện các chiến thuật mới cho các binh sĩ, trong đó có chiến thuật bám đá lòn hang và chúng phải trả giá cho những chiến lược  điên cuồng ấy. Các chiến sĩ của ta tuy quân ít, vũ khí thô sơ, nhưng với lợi thế về địa hình hiểm trở đã lòn lách theo các vách đá và lòng hang, dùng lựu đạn tự chế và súng trường bắn trả đã gây nhiều tổn thương cho quân thù trong suốt 128 ngày đêm. Và cuối cùng, để bảo toàn lực lượng, Tỉnh ủy An Giang đã ra lệnh cho các chiến sĩ trong hang rút quân an toàn ra khỏi trận địa.
Tượng đài chiến thắng
Hòa bình lập lại, đồi Tức Dụp từ một ngọn đồi trọc, không còn vết tích của sự sống do hậu quả của bom đạn chiến tranh, nay đã bắt đầu trở lại màu xanh cây lá và trở thành một di tích lịch sử được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng. Với phong cảnh hữu tình, nằm bên cạnh ngọn núi Cô Tô hùng vĩ, đồi Tức Dụp luôn tấp nập du khách đến tham quan trong những dịp lễ, Tết,... để xem những chiến tích xưa, được hít thở không khí trong lành, chiêm ngưỡng cảnh núi non trập trùng. Đến đây, du khách có thể tham quan những địa danh như: hang C.6, hang Quân y, hang Thanh Niên, Hội trường Tỉnh ủy,... Đồi Tức Dụp ngày nay là một di tích lịch sử nhằm giáo dục cho thế hệ sau này và xứng đáng là khu tham quan, giải trí lý tưởng, đúng như lời khen ngợi của những người đã từng một lần đến đây.



Núi Két và tích Ông Năm Chèo

Những du khách hành hương đến viếng chùa Bà Núi Sam, cách đó khoảng hơn 20km dọc theo quốc lộ 91 về hướng Nhà Bàng, du khách sẽ thật sự đắm chìm trong khung cảnh thiên nhiên còn đó dáng dấp hoang sơ, huyền bí. Và trên con đường đi Dốc Bà Đắc, Thới Sơn, Tịnh Biên, du khách sẽ được tận mắt nhìn thấy cái mõm đá hình mỏ Két thật oai nghiêm bên vách núi đá dựng đứng. Đấy chính là Anh vũ sơn - ngọn núi linh thiêng.
Núi Két
Anh vũ sơn mà dân gian quen gọi là núi Két hay núi Ông Két, đây là một trong bảy ngọn núi nổi tiếng ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Không biết tự bao giờ, người dân địa phương đã truyền tụng với nhau câu ca
" Tịnh Biên ơi! Thất Sơn hùng vĩ
Tên đất, tên người, sống mãi ngàn năm"
Địa danh Thất sơn đã ăn sâu vào tâm thức của người dân tự bao đời. Dù đi đến nơi đâu, người dân địa phương luôn nhắc nhau rằng " không ở đâu bằng quê mình, vừa có núi vừa có đồng bằng…thiên nhiên thật ưu ái con người. Linh thiêng lắm!". Từ trẻ nhỏ đến người già, ai cũng biết được một vài mẫu chuyện huyền thoại về từng ngọn núi gốc cây nơi đây. Còn nhớ, lũ học trò tụi tôi, chẳng ngại nắng gió hễ có thời gian hoặc nhân dịp ngày lễ, tết, chúng tôi leo một mạch đến tận đỉnh núi Ông Két. Vừa leo núi vừa hát hò "núi cao thì mặc núi cao, nhưng núi cao quá thì ta đi "dìa"…", có đứa còn ngẫu hứng ngâm nga bài thơ " Mới ra tù tập leo núi" của Bác nữa. Đặc biệt nhất vẫn là việc dù cơ thể mệt mỏi rã rời cũng phải gắng mà nói " Ông Két ơi! Con khỏe quá, khỏe..!". Điều tối kỵ của việc leo núi là than vãn, nói lời văng tục và hái trộm cây trái ven đường. Người lớn thường căn dặn bọn con nít như vậy. Núi non là một nơi linh thiêng, nếu đã hứa đến viếng thì phải đi, không được khất lần  "Ông Két linh lắm!".
Đỉnh núi Ông Két
Thuở nhỏ, bọn chúng tôi rất thích nghe kể những mẫu chuyện về "sự tích núi Ông Két". Nghe đâu ngày xưa trên ấy có chư tiên giáng thế và có rất nhiều loài thú hoang dã sinh sống. Bởi vậy ngày nay trên đỉnh núi két còn đó những dấu tích mà dân gian đặt cho cái tên như Sân tiên, Giếng tiên, Điện ông Hổ, Điện ông Năm, hàm ếch….Trí tò mò của con nít đã thôi thúc chúng tôi thường xuyên viếng núi để tìm hiểu. Đi riết rồi đứa nào cũng thuộc đường đi lối về. Những du khách phương xa đến viếng núi thì chúng tôi sẵn sàng dẫn đường mà chẳng tính công. Vì đây là việc làm gieo phúc đức lớn, ý nghĩa lắm!
Giếng Tiên
Một lần nọ, tôi đã cảm thấy mình thật sự có phúc. Ông Năm, rất già, rất khỏe, rất minh mẫn tu tập tại một cái điện cổ xưa ở giữa lưng chừng núi, ông đã kể cho tôi nghe về cái tích "Chú chim anh vũ bay đến cứu nạn cho dân chúng, sau đó chim bay đậu trên ngọn núi này rồi kêu lên ba tiếng thật lớn và hóa đá...". Ông còn giảng dạy cho tôi rất nhiều về phật pháp, về đạo làm người, lối ứng xử hòa nhã giữa người với người và ông khuyên tôi hãy nhớ tích cực làm việc thiện, có ích cho mọi người, hiếu thảo với ông bà, mẹ cha. Ngay lúc ấy, tôi nào biết trước mặt tôi là một ông Năm đã từng bị sét đánh đến lần thứ ba. Ông bảo " cái số, phước mạng và căn duyên, con có đức tin không?". Ít lâu sau ông Năm viên tịch, từ đó mọi người vẫn quen gọi cái điện được tạo nên bởi hai tảng đá xếp chồng hình vỏ hến ấy là "Điện ông Năm". Phía trước Điện ông Năm có một cây Sao, cây Sao ấy thẳng và cao gần 40m.
Điện thờ trên núi

Ngày nay, núi Ông Két được tôn tạo xem như là một khu du lịch. Du khách đến đây có thể ngủ lại qua đêm tại nhà nghỉ, có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh thiên nhiên từ những dòng sông uốn khúc quanh những cánh đồng đến những cánh rừng tràm xanh thẳm và càng thú vị hơn là có thể nhìn sang nước bạn - Campuchia. Đối với khách hành hương, họ đến viếng núi Ông Két còn để sống trong một thế giới an lạc, tịnh tâm; cầu mong mưa thuận gió hòa và dường như họ còn gởi cả những phiền muộn, vất vả của đời thường hòa vào gió núi linh thiêng….  

Chuyện kể về ông Đình Tây dưới chân núi Két
Ông Đình Tây tên thật Bùi Văn Tây là một trong nhiều đệ tử giỏi của cụ Đoàn Minh Huyên (Đức Phật Thầy Tây An). Hằng năm, Phước Điền tự thu hút đông đảo người dân khắp các tỉnh ĐBSCL đến cúng viếng. Tương truyền cho rằng, vùng Thất Sơn xưa kia khét tiếng hùm beo, thú dữ. Và, câu chuyện ly kỳ về ông Đình Tây thuần phục cá sấu hoang 5 chân, mũi đỏ (còn gọi là ông Năm Chèo) đã được truyền miệng khắp vùng.
 “Bà mụ”… bất đắc dĩ
Ghé thăm khu mộ ông Đình Tây, chúng tôi tìm gặp bà Hồ Thị Cưng, cháu ngoại đời thứ tư của ông Đình Tây đang trông coi hương khói và những hiện vật bắt cá sấu 5 chân còn lưu giữ lại. Chỉ về lưỡi câu to và 2 chiếc lao bén ngót, bà Cưng kể: “Ông ngoại tôi hồi đó là đạo sĩ đệ tử thứ 3 của cụ Đoàn Minh Huyên. Trong một lần tới vùng đất Láng Linh bốc thuốc trị bệnh, bỗng dưng trong căn nhà lá lụp xụp có tiếng rên la của một phụ nữ đang chuyển dạ. Ông ngoại tôi nhìn quanh vùng hoang vu, chẳng có ngôi nhà thứ 2. Thấy người phụ nữ đau đớn chuẩn bị sanh mà không có chồng ở nhà. Trước hoàn cảnh đáng thương ấy, ông đã xắn tay áo vào nhà giúp người phụ nữ kia sinh nở an toàn. Cũng ngay hôm đó, vừa về đến nhà thấy vợ mình sinh mẹ tròn con vuông, ông chồng lập tức đến ôm vợ con mừng rơi nước mắt. Sau đó, bà vợ nói với giọng yếu ớt: “Nhờ ông Đình Tây mà mẹ con em mới sinh được an toàn như vầy…”.
Bà Cưng bồi hồi kể tiếp: “Ông ngoại tôi nói, ngày trước vùng Láng Linh đồng hoang vu, thú rừng, cá tôm nhiều vô kể. Nhà vợ chồng của người nông dân ấy rất nghèo. Hôm đó, ổng để vợ ở nhà một mình để đi săn mong kiếm được thú rừng, cá tôm về bán để lo tiền cho vợ sinh nở. Nào ngờ, ngay ngày ông ngoại tôi đi hành thiện thì bà vợ lâm bồn. Lúc về nhà ổng quảy chiếc rọng với đầy đủ cá, tôm… Thế nhưng, thật kỳ lạ là hôm ấy trong chiếc rọng có một con cá sấu to bằng cườm tay, đặc biệt có đến 5 cái chân, mũi đỏ chót. Để đền ơn ông ngoại tôi, người nông dân ấy nói: “Không có gì quý giá để tạ ơn ông, đêm hôm qua trong chuyến đi săn, tôi bắt dính con cá sấu, nay biếu cho ông làm quà kỷ niệm…”. Nhìn con cá sấu có hình thù kỳ quái, ông ngoại tôi thích thú liền mang về nuôi…”.
 “Nghiệt thú” 5 chân
Khi mang con cá sấu về, ông Đình Tây mới trình với Đức Phật Thầy. Lúc đầu tưởng là con cá sấu bình thường, nào ngờ khi giở nắp rọng ra, Đức Phật Thầy lắc đầu, khoát tay bảo ông Đình Tây không nên nuôi con “nghiệt thú” ấy, sau này sẽ làm điều hại dân. Không nghe lời răn của sư phụ, ông Đình Tây lén lút đem con cá sấu 5 chân thả ở một góc hồ sen trước sân đình. “Hằng ngày, trời sụp tối ông ngoại tôi mang chuối, trái cây ra cho con cá sấu ăn. Mặc dù, con sấu “ăn chay”, nhưng vẫn lớn nhanh như thổi. Thấy con sấu càng lớn, càng hung hăng, ông ngoại tôi mới dùng dây xích trói một chân, không cho nó thoát ra khỏi hồ”, bà Cưng nói.
Đêm tháng 8 trời trở chướng, mưa to, giông giật, sấm chớp, con sấu đã sổng dây. Sáng ra, ông Đình Tây mới phát hiện con sấu mất. Khi kiểm tra sợi dây trói thì ông Đình Tây thấy còn dính lại một chân con sấu. Lần theo đường mòn sau đình, biết chắc là con sấu đã đi xuống nhà dân, sau đó ông mới bẩm với Đức Phật Thầy. Được sư phụ trao cho món bảo bối gồm: 2 cây lao, 1 cây mun cổ phụng, 1 lưỡi câu và 1 sợi dây, ông Đình Tây cùng đồ đệ của mình lên đường đi bắt “nghiệt thú”. Nhiều người cho rằng, con cá sấu mà ông Đình Tây nuôi lớn bằng chiếc xuồng, mỗi lần ai chèo ghe ngang trên đồng lũ đều bị con sấu nhấn chìm. Ngoài ra, khi đói, con sấu còn lên bờ đuổi bắt gà, heo, thậm chí còn rượt cả người, gây ra biết bao nỗi kinh hoàng cho người dân. Nhưng điều lạ là mỗi lần nghe tin ông Đình Tây cùng đệ tử xuống tận nơi truy tìm thì con cá sấu trốn mất. Ông Lê Văn Nhưng, người trông coi hương khói ở Phước Điền Tự nói: “Con sấu quá tinh khôn. Ông Đình Tây dẫn nhiều môn đệ đến vây bắt mà vẫn không dính. Sau đó, nó trốn đi mất tăm. Từ đó về sau không nghe mọi người than phiền con sấu này nữa. Sau khi ông Đình Tây viên tịch thì những món bảo bối được gìn giữ trong khung kiếng rất cẩn trọng. Hằng năm, đến ngày giỗ ông Đình Tây nơi đây thu hút rất đông du khách thập phương đến cúng viếng”.
Cho đến nay, trải qua trên 100 năm, nhưng cư dân Nam Bộ vẫn truyền nhau những câu chuyện thực hư về ông Đình Tây và con sấu 5 chân. Họ cho rằng, “sấu thần” đang ẩn mình trên sông Vàm Nao. Ông Huỳnh Văn Điều (ba Thành 81 tuổi), nguyên Bí thư Huyện ủy Tịnh Biên khẳng định: “Nhiều câu chuyện huyễn hoặc, ly kỳ về ông Đình Tây đã phần nào nói lên được lịch sử hình thành và tính cách hào phóng của con người Nam Bộ thời khẩn hoang. Ngày nay, tiếp bước cha ông, người dân Thới Sơn anh hùng tự hào về mảnh đất giàu truyền thống cách mạng để xây dựng quê hương ngày càng khởi sắc”.

Núi Cấm An Giang

Đấy là tên chữ của núi Cấm (cao 716 mét). Có ý kiến cho rằng phải gọi là Thiên Cẩm Sơn mới đúng vì đấy là một ngọn núi hùng vĩ,đẹp đẽ nhất trong dãy Thất Sơn, nằm trong khu tam giác Tịnh Biên - Nhà Bàng - Tri Tôn thuộc tỉnh An Giang. Còn người dân tộc Khơ-me gọi núi Cấm là Thalot . 
Lâm viên Núi Cấm
I - Vì sao có tên núi Cấm?
Có nhiều giả thuyết về tên gọi :
Theo Nguyễn Văn Hầu, giả thuyết đáng tin cậy hơn cả là Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên) đã cấm các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, giáo phái do ông gầy dựng, lên đó cất nhà cửa hoặc chùa am để ở. Vì lẽ có người ở ăn tất sẽ có sự ô uế núi non, một nơi linh tu mà ông nhận thấy cần giữ gìn cho trong sạch.
Cũng có giả thuyết cho rằng, Nguyễn Ánh khi bị quân Tây Sơn truy nã có lúc phải bỏ Phú Quốc vào núi này để trốn lánh. Để cho tông tích khỏi lộ, các cận thần của chúa Nguyễn phao tin nơi rừng núi có nhiều yêu quái ác thú; nhiều dốc cao vực sâu nên nghiêm cấm dân chúng vào núi.
Cũng có giả thuyết khác cho rằng Đơn Hùng Tín (biệt danh của  Lê  Văn Tín, quê Cao Lãnh) có lúc dùng nơi này làm sào huyệt để xuất phát những trận ăn cướp lớn. Do đó y cấm dân gian bén mảng tới để dễ bề ngăn chặn bọn do thám, lính kín của Tây (Nguyễn Văn Hầu, nữa tháng trong miền Thất Sơn, Nxb Trẻ, 1996)
Vì vậy có thể từ lệnh "cấm" này khiến bây giờ người ta quen gọi tên chữ là Thiên Cấm Sơn  chăng?

II - Thất Sơn gồm những núi nào?


Thất Sơn
Thất Sơn là 7 ngọn núi tiêu biểu trong số 37 ngọn núi được biết đến ở  2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang.
Nói đến “Thất Sơn” không ai ở An Giang là không biết đến, kể cả biết bao khách du lịch hàng năm đổ về hành hương viếng Bà Chúa Xứ núi Sam ở Châu Đốc. Vậy mà, nếu có ai đó truy vấn “Thất Sơn” là bảy ngọn núi nào thì có lẽ người được hỏi cũng đâm ra lúng túng, bởi ngay cả giới nghiên cứu cũng chưa đưa ra được lời giải đáp đủ sức thuyết phục. Lý giải về cái tên “Thất Sơn”, có người cho rằng nó trùng hợp với tâm thức của người dân Nam bộ khi trong dân gian quen có câu nói “nam thất, nữ cửu”, và vì đã có “Cửu Long” ắt phải có “Thất Sơn” để âm dương được hòa hợp. Có người lại dựa theo bảng giải mã của Lạc Thư với các con số dương 3-5-7 nằm từ hướng Đông sang Tây để giải thích, cho rằng đã có Tam Đảo (miền Bắc), Ngũ Hành (miền Trung) thì cũng phải có Thất Sơn (miền Nam) mới trọn vẹn ý nghĩa, thể hiện sự tốt đẹp, thống nhất và vĩnh cửu. Có người lại gắn “Thất Sơn với biểu tượng tín ngưỡng, tương ứng với tứ linh “Long, Lân, Qui, Phụng” và thế “Voi chầu, Hổ phục”: 6 ngọn núi với tên sáu con vật qúy bao quanh, bảo vệ ngọn núi trung tâm là Thiên Cấm Sơn…
Trong Đại Nam Nhất Thống Chí (1865) từ "Thất Sơn''lần đầu tiên được ghi đó là các núi :Tượng Sơn, Tô Sơn, Cấm Sơn, Ốc Nhẫm, NamVi, Tà Biệt, Nhân Hòa.
Nhưng theo Hồ Biểu Chánh (Thất Sơn Huyền Bí ), Nguyễn Văn Hầu (Thất Sơn Màu Nhiệm) cho rằng đó là các núi : Tô, Cấm, Trà Sư, Két ,Dài, Tượng, Bà Đội Om.
Có giả thuyết khác như của Trần Thanh Phương trong sách Những Trang sử về An Giang, XBnăm 1984 cho rằng đó là các núi:  Cấm (Thiên Cấm Sơn ), Dài năm giếng (Ngũ Hồ Sơn ),Tô (Phụng Hoàng Sơn ), Giài (Ngọa Long Sơn), Tượng (Liên Hoa Sơn ), Két (Anh Vũ Sơn) và Nước (Thủy Đài Sơn )
Cũng có giả thuyết khác nữa cho rằng đó là các núi : Cấm, Dài, Tô, Phú Cường,  Nam Qui, Sam, khối núi Trà Sư (gồm núi Giai, Két, Trà sư …)

III - Năm Non tại núi Cấm: 
"Non'' thường chỉ một chỏm cao trên dãy núi, còn gọi là "vồ''.
 Theo Nguyễn Văn Hầu (sách Thất sơn mầu nhiệm ) năm non chỉ 5 đỉnh núi cao của núi Cấm bao gồm : 

1.Vồ Bồ Hong: là đỉnh cao nhất và nổi tiếng nhất của Thất Sơn, cao 716m, ngày xưa ít người lui tới. Giả thuyết cho rằng nơi này có nhiều côn trùng gọi là bồ hong sinh sống.
Về đêm, vồ Bò Hong sương mù phủ trắng và lạnh nhứt vào mùa đông.Còn ban ngày, đứng tại nơi được coi là "nóc nhà" của Đồng bằng sông Cửu Long này, khách tham quan có thể phóng tầm mắt nhìn thấy toàn cảnh những cánh đồng ruộng ngút ngàn; sẽ thấy ngay cả con kinh Vĩnh Tế ( gắn liền với bao công lao của cha ông thời mở cõi) chạy dài, tiếp giáp với sông Giang Thành chảy ra tận  biến Hà Tiên. 
Vồ Bồ Hong đỉnh cao nhất của Núi Cấm
2.Vồ Đầu: là  đỉnh cao đầu tiên của Núi Cấm tính từ phía Bắc, cao 584m.

3.Vồ Bà: cao 579, vồ  này có điện thờ Bà Chúa Sứ.

4.Vồ Ông Bướm (Ông Voi ):  cao 480m. Giả thuyết cho rằng xưa kia có hai người Khmer lưu lạc giang hồ về cư trú nơi chỏm đá này, đó là Ông Bướm và ông Vôi nên mới đặt tên như thế

5.Vồ Thiên Tuế: Nằm ở độ cao 541m so với mặt nước biển, Thiên Cấm sơn (núi Cấm) không chỉ là “nóc nhà” của ĐBSCL mà còn chất chứa trong lòng cả một kho tàng những câu chuyện ly kỳ nhuốm sắc màu huyền bí. Tại đây từng bụi cây, ngọn cỏ, hòn đá đều gắn liền với truyền thuyết ly kỳ mà Vồ Thiên Tuế - một trong 5 vồ (ngọn đồi nhỏ) trong hệ thống núi Cấm - là trường hợp điển hình. Bởi ngay cả giả thuyết về sự ra đời của địa danh này cũng lung linh huyền thoại.
Giả thuyết thứ nhất cho rằng do nơi đây này từng được vua Gia Long đặt đại bản doanh trong những lần lẫn tránh sự truy đuổi của quân Tây Sơn. Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho nhà vua, lúc đó người ta gọi “trại” là vồ thiên tuế ở.
Về sau do ảnh hưởng thói quen nói gọn của người Nam bộ, đã hình thành địa danh vồ Thiên Tuế như ngày nay. Giả thuyết thứ 2 cho rằng do nơi đây là lãnh địa của loài cây thiên tuế. Thiên tuế ở đây mọc thành rừng và nhiều cây trở thành cổ thụ dài gần chục mét và được dự đoán “thọ” đến hàng trăm năm tuổi.
Đại lão lương y Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y, hiện là Trưởng ban Quản tự chùa Phật Lớn trên đỉnh núi Cấm, năm nay đã bước sang tuổi bách niên-SN 1913, từng có hơn 70 năm gắn bó với ngọn núi này, lại cho rằng cả 2 giả thuyết đều... đúng.
Bởi ngoài việc còn lưu lại một số dấu tích được cho là liên quan đến sự hiện diện của vua Gia Long như chiếc “ghế vua”, là phiến đá có hình tương tự như chiếc ngai mà lúc lên đây vua Gia Long thường ngự tọa và “giếng vua” là giếng nước tự nhiên nằm giữa phiến đá khổng lồ nhưng bốn mùa xuân-hạ-thu-đông lúc nào cũng đầy ắp nước.
Tương truyền ngày xưa, khi tránh sự truy đuổi của quân Tây Sơn lên đây một thời gian, ba quân tướng sĩ bị kiệt sức vì khô hạn, vua Gia Long đã khấn nguyện rồi dùng kiếm đâm sâu vào lòng phiến đá khổng lồ dưới dân. Kỳ lạ thay, dù ngay giữa mùa khô hạn, nhưng khi mũi kiếm vừa rút lên, thì từ lòng đá cũng phụt lên dòng nước ngọt mát lành. Nhờ đó mà tướng sĩ vượt qua cơn khát… Để ghi nhận sự kiện thần kỳ này, vua Gia Long gọi đây là Giếng do Tiên ban tặng.
Từ đó nguồn nước giữa phiến đá này có tên là Giếng Tiên. Trải qua hàng trăm năm, đến nay Giếng Tiên vẫn bốn mùa đầy ắp nước ngọt.


Hang Ông Hổ gần Vồ Thiên Tuế
IV - Bác vật Lang: Vì sao hang có tên ấy & Bác vật Lang là ai ?
 (Ngày trước danh từ Bác vật có nghĩa gần giống như từ Bác học bây giờ; nó dùng để chỉ những người thông thái, hiểu biết sâu về một hay nhiều lĩnh vực khoa học)
Kỹ sư Lưu Văn Lang sinh ngày 5/6/1880 (mất ngày 3/8/1969) tại Tân Phú Đông, Sa Đéc (Đồng Tháp). Ông sinh và lớn lên trong một gia đình làm nghề thủ công phục vụ cho nông nghiệp.Dù nhà nghèo nhưng do chăm chỉ nên ông giành được học bổng tại trường Chasseloup Laubat Sài Gòn, năm 17 tuổi đậu tú tài 2 của Pháp với số điểm xuất sắc, được học bổng sang Pháp học École Centrale de Paris - nơi đào tạo kỹ sư lớn nhất nước này.
Năm 1904, ông tốt nghiệp kỹ sư hạng ưu (đứng thứ 3 trong số 250 người) là kỹ sư đầu tiên của Nam Bộ thời bấy giờ. Về nước, ông được nhà cầm quyền cử sang Vân Nam (Trung Quốc) tham gia xây dựng tuyến đường xe lửa nối Trung Quốc với Đông Dương. Ông thường xuống Bạc Liêu theo dõi các công trình xây dựng.
Nhiều người kể, khi cầu Long Thạnh do kỹ sư Pháp xây dựng sắp xong, ông lấy gậy gõ vào thành cầu rồi khẳng định với kỹ sư Pháp rằng một tháng nữa cầu sẽ sập. Viên kỹ sư Pháp hết sức phẫn nộ nhưng rồi vô cùng bái phục bởi cây cầu sập đúng như ông nói. Từ đó cầu Long Thạnh được gọi là cầu Sập. Viên tỉnh trưởng Bạc Liêu thời đó rất khâm phục Lưu Văn Lang nên đối đãi ông rất hậu hĩ. Để đáp lại tình cảm đó, ông xây tặng viên tỉnh trưởng chiếc đồng hồ đá này.
  Hiiện đồng hồ đá nằm trong khuôn viên (phía sau dãy nhà giữa) Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Bạc Liêu, số 84 đường Hai Bà Trưng, thị xã Bạc Liêu, được Bảo tàng tỉnh tôn tạo, giữ gìn và được đưa vào điểm tham quan lịch sử.
Trở lại chuyện, người ta kể rằng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ 2.
Lưu Văn Lang được mời tham gia Hội đồng Nam Kỳ của chính phủ "bù nhìn" Nguyễn Văn Thinh .Ông đã thẳng thắn trả lời: Je suis trop vieux pour sevir de valet !(tôi đã quá già để làm tay sai)…
 Và một lần người Pháp đã đưa Bác vật Lang lên núi Cấm và thòng dây thả ông xuống để thám sát lòng hang.Trong hang rất tối, lạnh lẽo, thiếu dưỡng khí nên mọi thứ đèn đuốc đều khó cháy sáng. Sau gần một ngày xem xét ở dưới đó, ông trở lên mặt đất và từ đó ông không nói một lời nào…Và cũng từ đó hang sâu này được  người đời gọi theo tên của ông. Sau này tên Bảy Đởm, một tay anh chị của đất miền Tây, theo giặc được phong đến chức "thiếu tá" đã cho pháo binh ở căn cứ Chi Lăng bắn lên cho đá lấp cửa hang lại. Dù chuyện xảy ra đã lâu, hôm nay nhiều người vẫn tìm đến chỉ để đứng trước cửa hang, thầm tưởng tượng những gì vừa thiêng liêng, kỳ bí nơi chốn thẳm cùng vừa để thắp một nén hương tưởng niệm một con người tài ba và khảng khái của đất Nam bộ.
Đồng hồ đá do nhà bát vật Lưu Văn Lang tặng tỉnh trưởng Bạc Liêu
V - Điểm qua vài danh lam :

1. Chùa Vạn Linh: Cấm Sơn có một vài ngôi chùa và nhiều am cốc, như chùa Phật Nhỏ, chùa Phật Lớn, Trung Sơn Thiên Tự, Cao đài tự…, trong đó có một ngôi chùa được đông đảo người đến chiêm bái ,đó là chùa Vạn Linh
Là danh lam trên đỉnh núi Cấm. Chùa là một kiệt tác về kiến trúc, vừa mang sắc thái Á Đông vừa mang tính hiện đại, vừa bề thế vừa trang nghiêm và hài hòa với khung cảnh xanh tươi, hùng vĩ, nhiều huyền thoại của núi rừng…
Chùa Vạn Linh trước đây có tên là chùa Lá. Người bạt núi dựng chùa đầu tiên là Nguyễn Văn Xứng, sinh năm 1895 tại Bến Tre, đệ tử của tổ Phi Lai thuộc dòng Lâm Tế. Ngài đã xuất gia lên núi tìm thầy học đạo từ năm 1918, pháp danh là Thượng Thiện Hạ Quang.  Hòa Thượng Thích Hoằng Xưng, thường trực tại bổn chùa hiện nay cho biết: Vào năm 1929, Hòa Thượng Thích Thiện Hạ Quang đã chọn đất lập am thờ Phật, lúc đầu làm bằng tranh lá đơn sơ để ẩn tu, dần dần số đệ tử quy tụ về đông hơn, mới cùng nhau ra công góp sức tu bổ. Đến năm 1940, cái am nhỏ bắt đầu đổi thành chùa, lấy tên là chùa Vạn Linh. Năm 1943 chùa được xây dựng lại đàng hoàng hơn, to đẹp và kín đáo hơn. Đến năm 1946, chùa bị quân Pháp phá hủy hoàn toàn. Mãi tới sau ngày Pháp rút đi, chùa mới được xây dựng lại kiên cố hơn. Rồi chiến tranh lại xảy ra, năm 1970, máy bay Mỹ đã ném bom biến cả khu vực chùa Vạn Linh thành bình địa. Giữa cảnh hoang tàn đổ nát, ông Lâm Cáo Kía, một cư sĩ mộ đạo Phật, đứng ra dựng lại một cái chòi lá ngay trên nền chùa cũ và lập bàn thờ Phật để ngày đêm hương khói.(nay chòi lá được kiến tạo lại bằng xi măng trông giống hệt như tre lá thật )
 Cho đến năm 1983, ngôi Chùa Lá mới phục hồi. Năm 1995, được chính quyền địa phương ủng hộ, các sư tăng cùng người tín ngưỡng bắt tay vào việc thiết kế và xây dựng chùa mới gần bên nền chùa cũ.Chỉ tính việc vận chuyển sắt thép, xi măng, gạch ngói…từ chân núi lên đến tận đỉnh, trong khi đường đá hãy còn khúc khuỷu, lởm chởm, dốc đứng kề bên vực sâu…ai nấy đến thăm viếng đều trầm trồ thán phục trước tâm và lực của những con người miệt mài xây dựng nên danh lam này. Hiện nay chùa bao gồm tiền đường và hậu đường. Phần chính điện là nơi an vị các tượng Phật sơn son thếp vàng lộng lẫy giữa một khung cảnh trang nghiêm, trầm mặc và thoát trần, tạo ra một ấn tượng thẩm mỹ giữa phong cảnh u tịch của núi rừng.Trước tiền đường nhìn ra là Quan Âm các cao 35 mét, là tháp chuông với quả đại hồng chung nặng 1,2 tấn; là tháp chín tầng  mỗi tầng an vị một vị Phật bằng đá cẩm thạch lớn cở người thật, tạc rất mỹ thuật.Và bên phải là tháp Tổ có khắc thơ hoặc kệ giáo huấn…
Chung quanh chùa là những vườn hoa, vườn kiểng, vườn cây ăn trái và cây rừng tươi tốt bốn mùa, tạo nên một phong cảnh vừa nên thơ vừa rất thiền… Toàn cảnh tạo nên một nét đẹp hài hòa giữa lối kiến trúc tôn giáo và cảnh sắc thiên nhiên


Chùa Vạn Linh trên Núi Cấm
2. Chùa Phật Lớn & tượng Phật Di Lặc :
  Nghe tên ắt chùa hẳn ai cũng tưởng đó là danh lam đồ sộ, uy nghi, nào ngờ chỉ là một ngôi chùa nhỏ bé, nằm trong không gian tĩnh mịch, chìm đắm bên những gốc bồ đề cổ thụ nhuốm màu thời gian hơn một thế kỷ. Không gian thờ phượng cũng khá chật hẹp với một tượng Phật không lớn. Tuy vậy, những người cao tuổi và người Việt gốc khơ-me rất sùng kính nơi này.
Theo lời kể, thuở xa xưa nơi đây có một ngôi chùa của người Khơ-me rất đẹp đẽ, to lớn; nhưng vì sự tàn phá của thời gian, vì chịu nhiều nhiều bom đạn nên chùa cũ đã hư hại hoàn toàn.
Để từng bước tôn tạo lại, vào tháng 10 năm 2003, ban quản trị chùa Phật Lớn đã cho thi công tượng đài đức Phật Di Lặc cao 33,60 mét, sừng sững giữa một vùng cây cối xanh um, mặt hướng về chùa Phật Lớn và chùa Vạn Linh. Tượng Phật Di Lặc vừa mới hoàn thành trong năm 2006, kỳ thú nhứt là khách tham quan đứng ở bất cứ nơi nào trên các vồ núi cũng đều nhìn thấy tượng Phật trắng uy nghi giữa một không gian xanh, thoáng mát …
 Đây là một công trình nghệ thuật tôn giáo đồ sộ nhứt từ trước tới nay trên vùng Bảy Núi, cũng có thể nói hiện nay, đây là tượng Phật lớn nhất Đông Nam Á.


Tượng Phật Di Lạc trên Núi Cấm
 3. Cao Đài Tự:
Năm 1941,Giáo chủ đạo Cao Đài là Phạm Công Tắc lên núi Cấm lập bản doanh. Tháng 4-1943, Nguyễn Ngọc Điền tự xưng là "Đại nguyên soái". Ông ta cho người vào rừng tìm hạ một cây gỗ lớn để làm cột cờ .Khoảng 150 người hết sức vất vả trong nhiều ngày mới mang được cây gỗ dài gần 30 thước,đường kính gốc 8 tấc về tới sân bản doanh.Nhưng rồi cả "triều đình" không ai biết cách nào để dựng cột cờ lên được. "Đại nguyên soái" phải cho người qua chùa Lá (Vạn Linh) đón hai thầy trò Thiện Quang và Thiện Thới (tức ông Hai Sự, người rất giỏi võ và có sức khỏe thật phi thường) sang trợ giúp.
Lúc dựng cờ xong, Giáo chủ và "Đại nguyên soái" rất vui nên cho mở tiệc ăn mừng.Bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo đến, rồi một cơn cuồng phong nổi lên.Lá cờ dài hơn 3 mét, rộng 2 khổ vải, thêu 4 chữ "Hoàng đế xuất dương" bị gió lốc cuốn phăng đi. Mãi mấy tháng sau, mới có người tìm thấy "ông"( tức lá cờ) nằm tận bên vồ Thiên tuế.Còn cây cờ bị mưa ập xuống quật ngã làm hư hại nhiều "đền đài".
Riêng"Đại nguyên soái" cùng mấy bà "phi tần" bị giông tố hất văng xuống khe sâu.Sau khi cấp cứu sơ, ông Hai Sự đồng ý nhận lãnh việc đưa mấy bà này xuống núi vào nằm nhà thương ở chợ Sà- tón ( nay là chợ Tri Tôn )…
  Năm ngoái tôi có đến thăm và ngủ đêm tại chốn này.Trên đỉnh đồi xưa, giờ chỉ còn một ngôi chùa nhỏ đơn sơ, quạnh quẽ tên Cao Đài Tự; môt dãy nhà  tol lá dành cho khách thập phương tạm trú.


Cao Đài Tự trên Núi Cấm

Bài đăng phổ biến