Mã Phì Lèng - Hà Giang, Ô Quy Hồ - Lào Cai, Mã Phục - Cao Bằng hay Khau Phạ - Yên Bái... là những con đèo huyền thoại của dân phượt, với cảnh sắc hùng vĩ và nguy hiểm khi sương giăng trên trùng điệp những vực sâu thăm thẳm.
Đèo Thung Khe - Hòa Bình
Đèo Thung Khe hay đèo Đá Trắng, nằm giữa Cao Phong và Mai Châu của Hòa Bình, trên Quốc lộ 6. Con đèo đi qua những vực đá dựng đứng, không quá dài và quá dốc nhưng nổi tiếng nguy hiểm. Thung Khe buổi sớm là bầu trời trong trẻo, buổi trưa là nắng gắt trời xanh, buổi chiều dìu dịu với ánh nắng chiều và đêm là sương mù giăng khắp lối.
Đèo Pha Đin – nối Sơn La và Điện Biên
Đèo Pha Đin (hay Phạ Đin) nghĩa là Trời và Đất nằm giữa hai tỉnh Sơn La và Điện Biên. Đèo nổi tiếng đẹp và nguy hiểm. Con đường đèo liên tục với những cua dốc dựng đứng suốt 32km chiều dài.
Dưới chân đèo còn lác đác vài bản, lên gần đến đỉnh đèo thì hầu như không còn bản làng nào nữa. Chỉ có trời xanh và núi rừng thăm thẳm hoà quyện lấy nhau, vô cùng hùng vĩ.
Đèo Xá Tổng – Điện Biên
Đèo Xá Tổng nằm trong vị trí đầy hiểm trở từ Tuần Giáo lên Mường Lay. Con đèo dài 25km với nhiều đoạn không có cọc tiêu lẫn gương cầu. Đường đi trong khung cảnh hoang vắng vì xung quanh đèo không một bóng nhà dân.
Đoạn đèo nay đã được sửa chữa dễ đi hơn. Hoàng hôn trên đèo rất đẹp nhưng cũng chứa đựng hiểm nguy bởi trời sẽ tối rất nhanh mà con đường còn dài phía trước.
Đèo Khau Phạ - Yên Bái
Khau Phạ, có nghĩa là Sừng trời, là con đèo dài nhất quốc lộ 32, dẫn từ Tú Lệ sang Mù Cang Chải. Đèo dài cỡ 30 km, gập ghềnh đá sỏi nhưng không có rào chắn hay bất cứ biển cảnh báo nào.
Vào những ngày mây mù, đèo đặc biệt nguy hiểm bởi dễ dàng bị sạt lở do nằm trong vùng đất đỏ bazan, hệ đất yếu. Vào mùa lúa chín tầm tháng 9 tháng 10, hãy đi qua Khau Phạ để thưởng thức vẻ đẹp tuyệt vời của lúa trên những thửa ruộng bậc thang.
Đèo Ô Quy Hồ - Lào Cai
Đèo còn có tên Hoàng Liên Sơn, nối giữa Lào Cai và Lai Châu với chiều dài kỉ lục tới hơn 40km. Nó còn được mọi người gọi là đèo Mây vì độ cao quanh năm mây mù che phủ.
Đèo Ô Quy Hồ chạy quanh dãy Hoàng Liên, nơi có đỉnh cao nhất Đông Dương Fansipan. Con đèo trước kia, khi chưa được làm đường, đầy hiểm trở, ít người dám qua lại vì đường quá dài với rất nhiều câu chuyện truyền miệng khiến người đi qua rùng mình.
Đèo Pha Long – Lào Cai
Được gọi như vậy có lẽ vì có đỉnh đèo chạy qua chợ phiên Pha Long, một xã nhỏ thuộc địa phận Mường Khương – Lào Cai.
Để đến với đèo, người ta phải đi xuyên qua một con đường đất hiểm trở từ Cán Cấu sang. Đường cheo leo vắt vẻo với đá hộc ngả nghiêng, chạy ngược dòng sông Chảy với chiều dài gần 20 km.
Đèo Bắc Sum - Hà Giang
Nằm giữa Hà Giang và Quản Bạ, đoạn đèo uốn lượn như những lọn vải xếp chồng lên nhau.
Từ Hà Giang lên đường 4D, sẽ bắt gặp đoạn đường đột ngột nhỏ và vòng vèo theo chân núi, cũng là điểm bắt bắt đầu hành trình khám phá cao nguyên đá thú vị. Qua đèo Bắc Sum sẽ đến “cổng trời” Quản Bạ, chiêm ngưỡng danh thắng núi Đôi do thiên tạo thật tuyệt mỹ.
Đèo Mã Pì Lèng – Hà Giang
Mã Pì Lèng có nghĩa là Sống mũi ngựa, nối Mèo Vạc với Đồng Văn, vốn là hai xã xa xôi nhất của tỉnh Hà Giang. Đèo được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ 20 do công nhân chủ yếu là người dân tộc H’ Mông làm.
Đèo dài khoảng 20 km, chênh vênh giữa những lớp đá, lớp núi lô xô trùng trùng điệp điệp.
Đèo Mã Phục – Cao Bằng
Sở dĩ có tên như vậy vì hai bên đường quốc lộ có hai khối đá vôi, dựng đứng chầu vào nhau như hai con ngựa nằm phủ phục.
Từ chân đèo rẽ trái là làng Tổng Cọt – nơi có cây đa già nổi tiếng và phiên chợ trâu ngày chủ nhật, rồi có thể tiếp tục ghé thăm làng cổ Nà Ngắn, đến với cửa khẩu Trà Lĩnh. Hay vượt qua Quảng Uyên rẽ phải là đường đến cửa khẩu quốc tế Tà Lùng. Rẽ trái ngược lên đến với Trùng Khánh, thác Bản Giốc kì vĩ và đường tới Hạ Lang, điểm kì cùng của tỉnh. Đèo cao 620 m, vượt qua bảy vòng dốc để đến được đỉnh, nơi có tấm biển: Trùng Khánh kính chào quý khách.
- Theo Lam Kinh (VnExpress), internet
Cung cấp các Chương trình Tour Du Lịch 2016, Dịch vụ Du Lịch, Bán Vé Máy Bay, Cho thuê xe du lịch, Làm Visa, Khách sạn giá rẻ.
Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013
Món lớ và những câu chuyện tếu
Lớ là món ăn dân dã, bình dị và cũng khá phổ biến của người vùng đồng bằng ven biển Nam Trung bộ, không phân biệt giàu có, sang hèn.
Thông thường người ta chế biến lớ từ hạt bắp (ảnh). Chọn những trái bắp đã cứng hột, nhưng chưa già lắm, đem phơi ngoài nắng tốt. Sau vài ba nắng, dùng tay lẩy lấy hạt rồi đem rang bằng chảo cát.
Hạt bắp đã rang chín phải để vừa nguội rồi mới cho vào cối đá giã thành lớ. Nếu còn nóng hoặc khi quá dịu hạt bắp sẽ dai, khó vỡ vụn khi đem giã. Bột lớ không quá mịn như bột làm bánh ngô, nhưng cũng không lợn cợn nhiều như bắp xay ghế cơm.
Lớ cũng có thể làm bằng nếp rang. Tháng chạp, giáp tết người ta dùng hạt nếp nguyên vỏ rang thành hạt nổ để làm một loại bánh rất độc đáo gọi là bánh nổ. Một số hạt nếp dù đã chín, các vỏ trấu đã sém vàng nhưng vì lý do nào đó không bung ra thành hạt nổ (gọi là nếp lì), sẽ được gom lại rồi đem giã lớ. Cũng có thể chế biến lớ bằng cách nghiền bắp bằng cối xay đá, nhưng theo các bà nội trợ, giã lớ bằng cối giã sẽ chủ động hơn về độ mịn và… vui!
Khi mẻ bột lớ đã mịn ở mức vừa ngon miệng, người ta cho thêm một ít muối, một ít đường vào cối, giã và đảo đều thêm mươi chày là xong. Thông thường lớ được cho vào một tô lớn, hoặc một chiếc thố bằng gốm để cả nhà cùng ăn. Dụng cụ để lấy lớ cho vào miệng là những chiếc lá mít tươi. Trong bữa ăn truyền thống, người Việt không sử dụng nhiều muỗng (thìa), chỉ có vài ba chiếc lá mít dùng xúc lớ là được.
Phải khéo léo trong cách ăn thì mới cảm nhận được hết cái ngon của lớ. Mỗi người lựa cho mình một chiếc lá mít không già mà cũng không non. Đưa ngón cái và ngón trỏ nhẹ nhàng tóm vành lá phía cuống và kẹp lại thành một “chiếc thìa lá” nho nhỏ, xinh xinh. Dùng cái vật dụng rất thiên nhiên ấy nhón một ít bột lớ trong tô rồi đưa lên miệng.
Người ăn khéo, khẽ há miệng, nhẹ nhàng vẩy các ngón tay để bột lớ rơi đúng trên mặt lưỡi. Lớ không cần phải nhai, nếu rơi vào kẻ răng hoặc khoé vòm miệng sẽ tạo cảm giác khó chịu, mất ngon.
Trên mặt lưỡi, hạt lớ từ từ ngấm nước bọt làm cho vị ngọt của đường, vị mặn của muối, vị bùi của bắp kích thích thần kinh vị giác, trong khi khứu giác đón nhận mùi thơm thoang thoảng của bột bắp và lá mít non, mang lại cho người ăn cảm giác vừa khoái khẩu, vừa thích thú.
Thường người ta giã lớ và ăn lớ vào những đêm trăng. Nhà nào giã lớ thì ới thêm hàng xóm cùng ăn cho vui. Không phải ai cũng có thể ăn lớ một cách khéo léo như đã kể ở trên, vì vậy những người ngồi ăn lớ luôn có một tư thế rất đặc biệt. Vẫn là quây quần bên tô lớ, nhưng sau khi đã dùng chiếc thìa bằng lá mít nhón một ít bột, người ta quay đầu, tránh nhìn thẳng mặt người khác, rồi mới hơi ngửa đầu cho lớ vào miệng.
Kể ra thì cũng lạ, nhưng nếu không như thế sẽ lắm khi phiền. Lớ ở dạng bột, nên khi ăn rất dễ bị sặc khiến bột lớ trong miệng phun ra phía trước, hoặc xốc lên mũi người ăn, nhất là khi bất thình lình nhìn thấy hoặc nghe thấy điều gì đó trái khoái, buồn cười.
Thôn quê ngày xưa thường có những người nghịch ngợm, tếu táo. Ở đám hát hố, thỉnh thoảng họ xọ vào đôi câu hát nghịch để thiên hạ cười chơi. Khi mọi người tụ họp đâu đó thì họ ngâm nga vài câu đố tục giảng thanh, hoặc kể một câu chuyện tếu, khiến mọi người không thể nhịn cười. Đang ngồi quây quần ăn lớ, gặp cái người tếu táo ấy đi qua, dù biết rằng sẽ rất “khổ sở”, nhưng người ta vẫn gọi vào. Thậm chí có gia đình còn vui vẻ đánh tiếng “rủ rê” họ từ chiều.
Ăn lớ cũng chỉ là để vui miệng, nên sẽ vui hơn nếu lại được nghe chuyện tếu và trổ tài… nhịn cười, để khỏi bị sặc. Khi thấy hầu như ai cũng cho lớ vào miệng, người tếu táo ấy mới bắt đầu kể chuyện. Ai nấy lắng tai nghe, môi mím lại, quyết chí ta đây chẳng chịu cười. Nhưng khi câu chuyện tới chỗ chẳng còn làm sao có thể nhịn cười thì tất cả bị cuốn theo, vừa cười, vừa sặc.
Đêm dần sang khuya. Ấm nước chè đã có sẵn trên bàn, mọi người uống nước rồi ai về nhà nấy, chuẩn bị cho một ngày nông sự nhọc nhằn vào hôm sau.
- Theo Lê Hồng Khánh (Quảng Ngãi Online), internet
Thông thường người ta chế biến lớ từ hạt bắp (ảnh). Chọn những trái bắp đã cứng hột, nhưng chưa già lắm, đem phơi ngoài nắng tốt. Sau vài ba nắng, dùng tay lẩy lấy hạt rồi đem rang bằng chảo cát.
Hạt bắp đã rang chín phải để vừa nguội rồi mới cho vào cối đá giã thành lớ. Nếu còn nóng hoặc khi quá dịu hạt bắp sẽ dai, khó vỡ vụn khi đem giã. Bột lớ không quá mịn như bột làm bánh ngô, nhưng cũng không lợn cợn nhiều như bắp xay ghế cơm.
Lớ cũng có thể làm bằng nếp rang. Tháng chạp, giáp tết người ta dùng hạt nếp nguyên vỏ rang thành hạt nổ để làm một loại bánh rất độc đáo gọi là bánh nổ. Một số hạt nếp dù đã chín, các vỏ trấu đã sém vàng nhưng vì lý do nào đó không bung ra thành hạt nổ (gọi là nếp lì), sẽ được gom lại rồi đem giã lớ. Cũng có thể chế biến lớ bằng cách nghiền bắp bằng cối xay đá, nhưng theo các bà nội trợ, giã lớ bằng cối giã sẽ chủ động hơn về độ mịn và… vui!Khi mẻ bột lớ đã mịn ở mức vừa ngon miệng, người ta cho thêm một ít muối, một ít đường vào cối, giã và đảo đều thêm mươi chày là xong. Thông thường lớ được cho vào một tô lớn, hoặc một chiếc thố bằng gốm để cả nhà cùng ăn. Dụng cụ để lấy lớ cho vào miệng là những chiếc lá mít tươi. Trong bữa ăn truyền thống, người Việt không sử dụng nhiều muỗng (thìa), chỉ có vài ba chiếc lá mít dùng xúc lớ là được.
Phải khéo léo trong cách ăn thì mới cảm nhận được hết cái ngon của lớ. Mỗi người lựa cho mình một chiếc lá mít không già mà cũng không non. Đưa ngón cái và ngón trỏ nhẹ nhàng tóm vành lá phía cuống và kẹp lại thành một “chiếc thìa lá” nho nhỏ, xinh xinh. Dùng cái vật dụng rất thiên nhiên ấy nhón một ít bột lớ trong tô rồi đưa lên miệng.Người ăn khéo, khẽ há miệng, nhẹ nhàng vẩy các ngón tay để bột lớ rơi đúng trên mặt lưỡi. Lớ không cần phải nhai, nếu rơi vào kẻ răng hoặc khoé vòm miệng sẽ tạo cảm giác khó chịu, mất ngon.
Trên mặt lưỡi, hạt lớ từ từ ngấm nước bọt làm cho vị ngọt của đường, vị mặn của muối, vị bùi của bắp kích thích thần kinh vị giác, trong khi khứu giác đón nhận mùi thơm thoang thoảng của bột bắp và lá mít non, mang lại cho người ăn cảm giác vừa khoái khẩu, vừa thích thú.
Thường người ta giã lớ và ăn lớ vào những đêm trăng. Nhà nào giã lớ thì ới thêm hàng xóm cùng ăn cho vui. Không phải ai cũng có thể ăn lớ một cách khéo léo như đã kể ở trên, vì vậy những người ngồi ăn lớ luôn có một tư thế rất đặc biệt. Vẫn là quây quần bên tô lớ, nhưng sau khi đã dùng chiếc thìa bằng lá mít nhón một ít bột, người ta quay đầu, tránh nhìn thẳng mặt người khác, rồi mới hơi ngửa đầu cho lớ vào miệng.Kể ra thì cũng lạ, nhưng nếu không như thế sẽ lắm khi phiền. Lớ ở dạng bột, nên khi ăn rất dễ bị sặc khiến bột lớ trong miệng phun ra phía trước, hoặc xốc lên mũi người ăn, nhất là khi bất thình lình nhìn thấy hoặc nghe thấy điều gì đó trái khoái, buồn cười.
Thôn quê ngày xưa thường có những người nghịch ngợm, tếu táo. Ở đám hát hố, thỉnh thoảng họ xọ vào đôi câu hát nghịch để thiên hạ cười chơi. Khi mọi người tụ họp đâu đó thì họ ngâm nga vài câu đố tục giảng thanh, hoặc kể một câu chuyện tếu, khiến mọi người không thể nhịn cười. Đang ngồi quây quần ăn lớ, gặp cái người tếu táo ấy đi qua, dù biết rằng sẽ rất “khổ sở”, nhưng người ta vẫn gọi vào. Thậm chí có gia đình còn vui vẻ đánh tiếng “rủ rê” họ từ chiều.
Ăn lớ cũng chỉ là để vui miệng, nên sẽ vui hơn nếu lại được nghe chuyện tếu và trổ tài… nhịn cười, để khỏi bị sặc. Khi thấy hầu như ai cũng cho lớ vào miệng, người tếu táo ấy mới bắt đầu kể chuyện. Ai nấy lắng tai nghe, môi mím lại, quyết chí ta đây chẳng chịu cười. Nhưng khi câu chuyện tới chỗ chẳng còn làm sao có thể nhịn cười thì tất cả bị cuốn theo, vừa cười, vừa sặc.
Đêm dần sang khuya. Ấm nước chè đã có sẵn trên bàn, mọi người uống nước rồi ai về nhà nấy, chuẩn bị cho một ngày nông sự nhọc nhằn vào hôm sau.
- Theo Lê Hồng Khánh (Quảng Ngãi Online), internet
Xóm 'lá vàng' ở Hòn Chuối
Người 'lá vàng' là cách gọi những gia đình lấy lá làm nhà, khi nào lá chuyển sang màu vàng là lúc dọn đi nơi khác bởi khu rừng ấy hết cái ăn. Những người dân ở Hòn Chuối, thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được gọi như thế.
Con tàu HQ 627 của Vùng E hải quân phải thả neo ngoài khơi để chúng tôi mặc áo phao và chuyển tải vào Hòn Chuối bằng xuồng máy. Trong nắng sớm, Hòn Chuối là một vách đá kỳ vĩ, nổi bật trên mặt biển bao la. Không có nơi cho xuồng đậu, chúng tôi nhảy lên những tảng đá chênh vênh bên bờ sóng. Nơi này được gọi là ghềnh Nồm. Trên ghềnh đá, những căn nhà dựng bằng cành cây và lá rừng bỏ không, đó là "dấu vết" của những "người lá vàng" được nói trong bài viết này.
< Chuyển tải vào Hòn Chuối bằng xuồng máy.
Người dân đầu tiên tôi gặp trên đường leo lên đỉnh Hòn Chuối là má Hai, một người đàn bà độc thân 73 tuổi. Bà sống trong một ngôi nhà tạm bợ dựng bằng nylon và cây lá.
Có người gọi bà là nữ Rôbinxơn (nhân vật Robinson Crusoe trong tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Anh Daniel Defoe) trên đảo hoang Hòn Chuối.
Năm 1972, bà Hai cùng chồng con vượt biển ra khai hoang. Chồng chết, 9 người con trưởng thành và cưới vợ, lấy chồng trong đất liền, mình bà Hai ở lại, sống cùng hai con chó và một con mèo, trồng chuối, mít trong rừng hoang.
< Những ngôi nhà bình dị nép dưới chân hòn.
Má Hai là một trong vài người "lá không vàng" hiếm hoi ở đây, bởi dù nghèo đến thế nào thì bà cũng đang "định cư", khác với hầu hết người dân Hòn Chuối.
Từ đỉnh núi, theo một khe đá nay trở thành đường giao thông chính của đảo, tôi xuống ghềnh Nam. Những mái nhà mong manh dựng bằng cành cây, quây nylon, lợp lá rừng đang ngả vàng bám trên những tảng đá lớn, dưới chân là lớp lớp sóng biển tung bọt trắng xóa.
Từ ghềnh Nồm, xóm lá vàng mới di chuyển về đây để tránh sóng to vì gió mùa. Mùa gió Nam, lại chuyển sang ghềnh Nồm bên kia đảo. Ngoài nylon che gió, người ta lấy lá móc và cỏ tranh, lau sậy để phủ lên mái nhà. Lá khô úa cũng là khi biển trở gió, lại khuân vác nồi niêu, ván vải sang phía bên kia. Mỗi lần như thế, mỗi gia đình tốn vài ba triệu đồng để mua nylon, dây nhợ từ đất liền, cách 18 hải lý.
< Nhà của cư dân đảo bên ghềnh Nam.
Bên lối đi dốc và gập ghềnh, trong ngôi nhà dựng trên tảng đá nhọn như kim tự tháp, một bà mẹ trẻ đang dỗ con. Cô tên Mơ, 22 tuổi và có hai con, đứa con lớn bốn tuổi ôm trong lòng, đứa sau lên hai ngủ trên võng, mẩu hương muỗi cháy phía dưới.
Ngôi nhà của Mơ không thể tuềnh toàng hơn. Áo quần treo một góc, nồi xoong mắc lên tường nhà bằng nylon, gió thổi va vào nhau lanh canh. Chồng đi câu, không kiếm được lá rừng gia cố thêm, nên cả mái lẫn vách nhà cứ phần phật bay trong gió.
< Cư dân trên Hòn Chuối.
Ở đây không trường học, không bệnh xá, không giếng nước, không nhà vệ sinh. Trước từng có một lớp phổ cập của đồn biên phòng mở nhưng trẻ con không đi học nên đã tan. Hơn 20 cháu nhỏ sinh ra trên đảo, qua tuổi đến trường lâu rồi mà chưa biết chữ.
Nhưng khi đi thăm xóm lá vàng, tôi bất ngờ thấy một cô gái trẻ đang nằm võng và cầm một lúc ba cuốn sổ và hát những bài ca sướt mướt. Cô tên Dung, 19 tuổi và biết chữ nhờ đã học ở lớp tình thương nọ.
< Các en nhỏ trên đảo Hòn Chuối.
Hai phụ nữ bỗng xuất hiện trước hiên, họ lấy trong giỏ xách ra một xấp đồ làm móng tay và hành nghề. Người thợ làm móng là Triệu Cẩm My, con gái ông Chiến.
My bảo cô có khoảng hai mươi khách hàng, cứ làm tới làm lui, hết người này tới người kia rồi... vòng lại. Ở trên hoang đảo, nhưng hầu hết phụ nữ đều sơn móng son. Tuy nhiên, giá một lần làm móng chỉ 10 nghìn đồng.
Trèo lên chiếc thang để lên một ngôi nhà chênh vênh bên sườn đá mà sẩy chân thì có thể ngã thẳng xuống biển, tôi vào nhà ông Triệu Văn Chiến. Người đàn ông mang hai dòng máu Hoa và Khơme này là một trong những người đầu tiên từ đất liền ra đây đã 15 năm. Hòn Chuối nay có 52 hộ dân, hơn 200 khẩu, đa số gốc Cà Mau, Bạc Liêu, đàn ông ra biển câu cá, đàn bà giữ con ở nhà.
< Nguồn nước ngọt duy nhất trên đảo.
"Nước sinh hoạt thì lấy ở đâu?", tôi hỏi. Ông Chiến ngoắc tay đưa tôi lên những vách đá nhọn hoắt phía sau nhà rồi tụt xuống một vực núi sâu thẳm và chênh vênh. Dưới một khe đá hun hút, có những chiếc can nhựa đang xếp hàng. "Nước đó", ông Chiến nói. Năm đầu tiên ra đảo, ông đi khắp nơi tìm kiếm, tình cờ thấy được mạch nước này.
Trong hẻm đá tối om, một cô gái nhỏ đang cầm chiếc ca nhựa múc nước đổ vào can. Mạch nước chảy ra từ đá với lưu lượng khoảng 5 lít một phút. Cả xóm lá vàng trên đảo trông vào mạch nước ấy, các gia đình mang can nhựa và xếp hàng đợi nước. Những ngày biển động, nước biển dâng ngập khe đá này, cả xóm lá vàng nháo nhác vì không có nước ăn uống.
< Trên đảo người dân sống rất đoàn kết và chan hòa.
Buổi trưa, trong bữa cơm ở trạm radar hải quân Hòn Khoai, tôi gặp ông Kim Ngọc Lý, người ở Cái Đôi, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Ông Lý từng ra Hòn Chuối cùng thời với bà Hai để trốn lính. Sau hòa bình, ông về đất liền và mới trở ra sống ở đảo 5 năm nay.
Ông bảo, trừ việc xây dựng đồn biên phòng, trạm radar và hải đăng thì Hòn Chuối vẫn y như thời ông phải trốn vào rừng để tránh người của chính quyền cũ ra đảo bắt lính. Đường chưa có, bể nước không, trạm xá, trường học làm sao mơ thấy. May sao, người dân ở đảo hầu như cũng không ốm đau, có chuyện gì ra quân y trạm radar, đồn biên phòng chữa là đủ.
"Ba năm rồi, năm nào cán bộ nhà nước cũng ra khảo sát, đo đạc, cho nổ cả dưới biển để tìm hiểu địa chất. Nghe nói sẽ có cả đường đi, trường học, nhà văn hóa, trạm y tế, nhưng lâu rồi vẫn chưa thấy gì", ông Lý nói. Giản dị hơn, những người dân, cả bộ đội, biên phòng, cả nhân viên hải đăng Hòn Chuối chỉ khát khao được Nhà nước làm cho hai cái cầu tàu ở hai bên ghềnh.
Hòn Chuối có cầu tàu thì mọi thứ sẽ dễ dàng hơn vì tàu xuồng có thể ra vào. Có cầu thì những người lính hải quân trên tàu HQ 627 hôm ấy không phải lao mình xuống biển để đẩy xuồng đưa chúng tôi vào đảo. Có cầu, có đường, có bể nước, trường học, trạm y tế... thì Hòn Chuối sẽ không còn là hòn đảo hoang. Và những người dân Hòn Chuối sẽ không phải sống 'đời lá vàng' như thế nữa!
Xem thêm:
Đảo Hòn Chuối nằm trên vùng biển Tây Nam (Vịnh Thái Lan), thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời. Đảo nằm cách cửa biển Sông Đốc 17 hải lý về phía tây, diện tích khoảng 7km², độ cao gần 170m so với mặt nước biển. Hiện nay, ngoài Đồn Biên phòng 704, Hải quân, Hải đăng và Tổ An ninh tự quản Khóm 1, thị trấn Sông Đốc làm nhiệm vụ trên đảo, Hòn Chuối còn có 43 hộ sinh sống với 179 khẩu.
< Vượt lên khó khăn, những chuyến tàu vẫn đến với Hòn Chuối, thể hiện tình cảm đất liền và đảo xa luôn bền chặt.
Ngư dân trên hòn chủ yếu làm nghề giăng câu, đi biển nên đời sống còn nghèo và bấp bênh. Chỗ ở của người dân cũng không ổn định phải di dời theo mùa, 6 tháng ở ghềnh chướng (sườn Đông), 6 tháng ở ghềnh nam (sườn Tây).
Nước ngọt phục vụ sinh hoạt rất hiếm, chủ yếu là chở từ đất liền ra. Nhằm tạo mạch nguồn nước thiên nhiên trên đảo, hiện tại công tác trồng rừng và bảo vệ rừng được thực hiện nghiêm ngặt.
- Theo Lưu Quang Phổ (báo Thanh Niên) và nhiều nguồn ảnh khác từ internet
Con tàu HQ 627 của Vùng E hải quân phải thả neo ngoài khơi để chúng tôi mặc áo phao và chuyển tải vào Hòn Chuối bằng xuồng máy. Trong nắng sớm, Hòn Chuối là một vách đá kỳ vĩ, nổi bật trên mặt biển bao la. Không có nơi cho xuồng đậu, chúng tôi nhảy lên những tảng đá chênh vênh bên bờ sóng. Nơi này được gọi là ghềnh Nồm. Trên ghềnh đá, những căn nhà dựng bằng cành cây và lá rừng bỏ không, đó là "dấu vết" của những "người lá vàng" được nói trong bài viết này.
< Chuyển tải vào Hòn Chuối bằng xuồng máy.
Người dân đầu tiên tôi gặp trên đường leo lên đỉnh Hòn Chuối là má Hai, một người đàn bà độc thân 73 tuổi. Bà sống trong một ngôi nhà tạm bợ dựng bằng nylon và cây lá.
Có người gọi bà là nữ Rôbinxơn (nhân vật Robinson Crusoe trong tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Anh Daniel Defoe) trên đảo hoang Hòn Chuối.
Năm 1972, bà Hai cùng chồng con vượt biển ra khai hoang. Chồng chết, 9 người con trưởng thành và cưới vợ, lấy chồng trong đất liền, mình bà Hai ở lại, sống cùng hai con chó và một con mèo, trồng chuối, mít trong rừng hoang.< Những ngôi nhà bình dị nép dưới chân hòn.
Má Hai là một trong vài người "lá không vàng" hiếm hoi ở đây, bởi dù nghèo đến thế nào thì bà cũng đang "định cư", khác với hầu hết người dân Hòn Chuối.
Từ đỉnh núi, theo một khe đá nay trở thành đường giao thông chính của đảo, tôi xuống ghềnh Nam. Những mái nhà mong manh dựng bằng cành cây, quây nylon, lợp lá rừng đang ngả vàng bám trên những tảng đá lớn, dưới chân là lớp lớp sóng biển tung bọt trắng xóa.
Từ ghềnh Nồm, xóm lá vàng mới di chuyển về đây để tránh sóng to vì gió mùa. Mùa gió Nam, lại chuyển sang ghềnh Nồm bên kia đảo. Ngoài nylon che gió, người ta lấy lá móc và cỏ tranh, lau sậy để phủ lên mái nhà. Lá khô úa cũng là khi biển trở gió, lại khuân vác nồi niêu, ván vải sang phía bên kia. Mỗi lần như thế, mỗi gia đình tốn vài ba triệu đồng để mua nylon, dây nhợ từ đất liền, cách 18 hải lý.
< Nhà của cư dân đảo bên ghềnh Nam.
Bên lối đi dốc và gập ghềnh, trong ngôi nhà dựng trên tảng đá nhọn như kim tự tháp, một bà mẹ trẻ đang dỗ con. Cô tên Mơ, 22 tuổi và có hai con, đứa con lớn bốn tuổi ôm trong lòng, đứa sau lên hai ngủ trên võng, mẩu hương muỗi cháy phía dưới.
Ngôi nhà của Mơ không thể tuềnh toàng hơn. Áo quần treo một góc, nồi xoong mắc lên tường nhà bằng nylon, gió thổi va vào nhau lanh canh. Chồng đi câu, không kiếm được lá rừng gia cố thêm, nên cả mái lẫn vách nhà cứ phần phật bay trong gió.
< Cư dân trên Hòn Chuối.
Ở đây không trường học, không bệnh xá, không giếng nước, không nhà vệ sinh. Trước từng có một lớp phổ cập của đồn biên phòng mở nhưng trẻ con không đi học nên đã tan. Hơn 20 cháu nhỏ sinh ra trên đảo, qua tuổi đến trường lâu rồi mà chưa biết chữ.
Nhưng khi đi thăm xóm lá vàng, tôi bất ngờ thấy một cô gái trẻ đang nằm võng và cầm một lúc ba cuốn sổ và hát những bài ca sướt mướt. Cô tên Dung, 19 tuổi và biết chữ nhờ đã học ở lớp tình thương nọ.
< Các en nhỏ trên đảo Hòn Chuối.
Hai phụ nữ bỗng xuất hiện trước hiên, họ lấy trong giỏ xách ra một xấp đồ làm móng tay và hành nghề. Người thợ làm móng là Triệu Cẩm My, con gái ông Chiến.
My bảo cô có khoảng hai mươi khách hàng, cứ làm tới làm lui, hết người này tới người kia rồi... vòng lại. Ở trên hoang đảo, nhưng hầu hết phụ nữ đều sơn móng son. Tuy nhiên, giá một lần làm móng chỉ 10 nghìn đồng.
Trèo lên chiếc thang để lên một ngôi nhà chênh vênh bên sườn đá mà sẩy chân thì có thể ngã thẳng xuống biển, tôi vào nhà ông Triệu Văn Chiến. Người đàn ông mang hai dòng máu Hoa và Khơme này là một trong những người đầu tiên từ đất liền ra đây đã 15 năm. Hòn Chuối nay có 52 hộ dân, hơn 200 khẩu, đa số gốc Cà Mau, Bạc Liêu, đàn ông ra biển câu cá, đàn bà giữ con ở nhà.
< Nguồn nước ngọt duy nhất trên đảo.
"Nước sinh hoạt thì lấy ở đâu?", tôi hỏi. Ông Chiến ngoắc tay đưa tôi lên những vách đá nhọn hoắt phía sau nhà rồi tụt xuống một vực núi sâu thẳm và chênh vênh. Dưới một khe đá hun hút, có những chiếc can nhựa đang xếp hàng. "Nước đó", ông Chiến nói. Năm đầu tiên ra đảo, ông đi khắp nơi tìm kiếm, tình cờ thấy được mạch nước này.
Trong hẻm đá tối om, một cô gái nhỏ đang cầm chiếc ca nhựa múc nước đổ vào can. Mạch nước chảy ra từ đá với lưu lượng khoảng 5 lít một phút. Cả xóm lá vàng trên đảo trông vào mạch nước ấy, các gia đình mang can nhựa và xếp hàng đợi nước. Những ngày biển động, nước biển dâng ngập khe đá này, cả xóm lá vàng nháo nhác vì không có nước ăn uống.
< Trên đảo người dân sống rất đoàn kết và chan hòa.
Buổi trưa, trong bữa cơm ở trạm radar hải quân Hòn Khoai, tôi gặp ông Kim Ngọc Lý, người ở Cái Đôi, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Ông Lý từng ra Hòn Chuối cùng thời với bà Hai để trốn lính. Sau hòa bình, ông về đất liền và mới trở ra sống ở đảo 5 năm nay.
Ông bảo, trừ việc xây dựng đồn biên phòng, trạm radar và hải đăng thì Hòn Chuối vẫn y như thời ông phải trốn vào rừng để tránh người của chính quyền cũ ra đảo bắt lính. Đường chưa có, bể nước không, trạm xá, trường học làm sao mơ thấy. May sao, người dân ở đảo hầu như cũng không ốm đau, có chuyện gì ra quân y trạm radar, đồn biên phòng chữa là đủ.
"Ba năm rồi, năm nào cán bộ nhà nước cũng ra khảo sát, đo đạc, cho nổ cả dưới biển để tìm hiểu địa chất. Nghe nói sẽ có cả đường đi, trường học, nhà văn hóa, trạm y tế, nhưng lâu rồi vẫn chưa thấy gì", ông Lý nói. Giản dị hơn, những người dân, cả bộ đội, biên phòng, cả nhân viên hải đăng Hòn Chuối chỉ khát khao được Nhà nước làm cho hai cái cầu tàu ở hai bên ghềnh.
Hòn Chuối có cầu tàu thì mọi thứ sẽ dễ dàng hơn vì tàu xuồng có thể ra vào. Có cầu thì những người lính hải quân trên tàu HQ 627 hôm ấy không phải lao mình xuống biển để đẩy xuồng đưa chúng tôi vào đảo. Có cầu, có đường, có bể nước, trường học, trạm y tế... thì Hòn Chuối sẽ không còn là hòn đảo hoang. Và những người dân Hòn Chuối sẽ không phải sống 'đời lá vàng' như thế nữa!Xem thêm:
Đảo Hòn Chuối nằm trên vùng biển Tây Nam (Vịnh Thái Lan), thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời. Đảo nằm cách cửa biển Sông Đốc 17 hải lý về phía tây, diện tích khoảng 7km², độ cao gần 170m so với mặt nước biển. Hiện nay, ngoài Đồn Biên phòng 704, Hải quân, Hải đăng và Tổ An ninh tự quản Khóm 1, thị trấn Sông Đốc làm nhiệm vụ trên đảo, Hòn Chuối còn có 43 hộ sinh sống với 179 khẩu.< Vượt lên khó khăn, những chuyến tàu vẫn đến với Hòn Chuối, thể hiện tình cảm đất liền và đảo xa luôn bền chặt.
Ngư dân trên hòn chủ yếu làm nghề giăng câu, đi biển nên đời sống còn nghèo và bấp bênh. Chỗ ở của người dân cũng không ổn định phải di dời theo mùa, 6 tháng ở ghềnh chướng (sườn Đông), 6 tháng ở ghềnh nam (sườn Tây).
Nước ngọt phục vụ sinh hoạt rất hiếm, chủ yếu là chở từ đất liền ra. Nhằm tạo mạch nguồn nước thiên nhiên trên đảo, hiện tại công tác trồng rừng và bảo vệ rừng được thực hiện nghiêm ngặt.
- Theo Lưu Quang Phổ (báo Thanh Niên) và nhiều nguồn ảnh khác từ internet
TPHCM - Vũng Tàu: Nơi Bước chân vẫn còn (P4)
(Tiếp theo và hết) Nỗi sợ - Theo bạn thì nó là gì?
Có lần tôi nghe từ một số ý kiến: Sợ thật ra nó là một chất gây nghiện, nó làm con người ta đê mê, chìm đắm và để rồi họ sống không thể thiếu nó. Trong những lúc sợ hãi họ cảm thấy họ chính là bản thân mình, chạm đc vào cái tôi bản thể ẩn sâu trong đáy lòng họ, và đó là những khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong cuộc đời.
Thèm muốn, họ tiếp tục lên đường tìm cho mình những thử thách mới, đối mặt với nó, vượt qua và hả hê cùng những chiến tích đã qua. Cuộc đời của kẻ lệ thuộc vào nỗi sợ nó cứ thế tiếp diễn, để đến khi nhìn lại, mệt mỏi và chán chường, rồi cũng có lúc yên vị, họ tìm cho mình sự viên mãn, để lại cho quá khứ tuổi trẻ vẫy vùng, đắm hết mình cùng những đam mê nông nổi. Lồng ngực rộn ràng, họ tự hào biết mấy.
< Nestea trên đường quốc lộ.
Hình như tôi cũng đang dần thành một tín đồ: Những chuyến đi, những con đường, những khoảnh khắc... nỗi sợ đều mang cho tôi những hương vị đặc biệt. Nó cứ như một cô gái vậy, quyến rũ nhưng cũng khiến dễ làm con người sụp đổ. Đã lỡ yêu thì chỉ nghĩ về nó trong từng khoảnh khắc mà thôi.
Còn nhớ cái cảm giác sau khi vượt qua nỗi sợ hôm đó. Chẳng có gì. Đơn giản bởi vì nó đã qua, cái thực sự đáng giá là cái đang diễn ra và cái thứ vô hình mà nó đang dần ngấm vào con người bạn. Ngấm chứ, hay còn dư âm tôi cũng không biết chắc, chẳng biết chắc được gì, chỉ biết tôi đang sống, và tôi đã qua, nó đã và đang khác dần đi.
Buổi sáng hôm đó là ngày đẹp nhất, con đường đầy hoa, mặt đường không một gơn sỏi, bầu trời không có một gợn nắng. Tôi mang trong mình với niềm hớn hở của một đứa trẻ thèm kẹo, đi bon bon, thèm cái mùi của biển.
Đưa bàn tay lên hứng từng lọn gió mặn chát, biển gần tới rồi, cố lên, chưa bao giờ tao yêu mày đến vậy, hoặc giả có là ghét, thì đó cũng là thứ nhất trần đời. Tôi đi theo con đường 3/2 cứ nghĩ như dài vô tận, đi qua biết bao nhiêu những cái cây ven đường, những vết lằn đỏ trắng, nhưng con lươn báo hiệu, con đường đẹp đấy, nhưng sao chán ngán, cứ đều đều vô vị.
Lúc đó tôi ước gì bầu trời xám xịt trên kia đầy những ánh nắng táp thẳng vào mặt, nheo mắt nhíu màu mà cảm hết cái vị ran rát của nó. Phải chi mà xung quanh đường là những cánh đồng lúa trải về thẳng chân trời để mỗi khi ngồi nghỉ tôi lại được cớ mơ mộng viển vông, phải chi đâu đó có 1 bà lão đi chợ sớm, còng lưng mà cặm cũi khiến cho kẻ xa xứ được thỏa ước nương theo...
Phải chi mà được như thế nhỉ. Nó làm tôi liên tưởng tới cuộc đời. Có đôi khi tôi cũng muốn có việc làm tốt nào đó, bàn giấy sổ sách, xung quanh là bức tường, tiền nhiều lương cao, nhưng thật sự đó có phải là điều tôi muốn. Cái tôi muốn là đam mê của mình, sống cùng nó, thở cùng nó và đi cùng nó đến hết cuộc đời. Để rồi bây giờ khi nhìn cái con đường như những bức tường bao quanh mà không còn chút hứng thú, chỉ còn cái trách nhiệm hoàn thành chuyến đi là thôi thúc cho tôi.
Lầm lũi mãi, cự nự mãi, thở dài mãi tôi cũng hết đc 2/3 chặng đường. Ngồi dừng lại quán nước mía ven đường, làm quen cùng cô chủ quán tốt bụng. Hình như ai nghe tôi đi bộ tới đây cũng đều tốt bụng thì phải, họ trìu mến hơn, dễ thương hơn.
Có lẽ tôi cũng vậy thôi, đi chuyến này tôi gặp cho mình rất nhiều người tốt, những tấm lòng rộng mở, nó là dành cho tôi và tôi đón nhận nó với sự cảm thông cao nhất. Tôi biết ơn họ, thấm nhuần họ và cũng sẽ tiếp nối họ. Nếu sau này có gặp 1 người cũng đi bộ thế này thì chắc chắn tôi cũng làm như họ, cái tốt được tiếp nối, tình yêu được nhân lên, thế giới sẽ tràn đầy tiếng cười trong sự cảm thông và chia sẻ -một thế giới hoàn mỹ.
< Đời tôi nhỏ bé trước những khát khao chìm trong nỗi đau.
Dọc trên cong đường Thùy Vân, cuối cùng cũng nhìn thấy biển. Ngồi một mình thẫn thờ ngắm biển, ngắm người người tấp nập đi ngang qua, con bé nghịch cát, bà bán cá viên, những bác thợ chụp ảnh, những cặp tình nhân... rất nhiều. Sao thấy trống vắng quá, hụt hẫng và tiêu điều. Tôi dạo một vòng khoảng 5 phút, chụp hình, rồi xách balo đi về. Cũng tính ở lại lâu lâu nhưng khi tới đây rồi chỉ muốn về, đơn giản là đã hết mục tiêu có ở lại cũng chẳng làm gì. Nhớ nhà, nhớ bữa ăn gia đình, nhớ bạn bè, nhớ thằng nhỏ hàng xóm, nhớ nhiều lắm. Cái suy nghĩ nếu bây giờ bắt xe về thì khoảng 2 tiếng sau sẽ có mặt ở Sài Gòn khiến tôi không kiềm chế được.
< Nhờ bác chụp hình dạo chụp cho một pô. Bác ấy có vẻ chạnh lòng, rồi bla bla gì về nghề nghiệp. Tớ không muốn nghe lắm, cái tớ muốn là một tấm hình...
Thế là kết thúc chuyến đi, chống vánh như một nốt nhạc lạc điệu. Có là sao? tôi chẳng muốn là một bản nhạc nào cả, cái tôi muốn là tôi đã đánh đàn. Bây giờ đang trên chuyến xe Phương Nam tiến thẳng về Sài Gòn, yên vị trong một góc nào đó... nhìn ra ngoài cửa sổ thấy con đường mình mới đi hôm nào. Bất chợt tôi thấy được hình ảnh của mình: thằng đàn ông với cây gậy làm bạn đường, cái balo nặng trĩu, cái túi ngủ lủng lẳng, và trên ngực là lá cờ đỏ sao vàng.
Lầm lũi, cô đơn nhưng tràn đầy niềm tin vào mục đích của mình. Nói về mục đích. Nhiều người hỏi tôi đi làm gì? tại sao không đi xe máy? ai bắt ép à? xe bị sao à?... nhiều lắm, dọc đường hầu như ai cũng hỏi. Nói ra thì cũng chẳng dài dòng, đơn giản vì tôi thích, thế là đi - Thế thôi. Mà trả lời vậy nhiều người lại nói mình khùng, mình điên này nọ. Mệt mỏi, đi để giảm cân chú ạ, bác ạ, chị ạ... Thế là xong chuyện.
Cũng lại đề cập tới vấn đề mục đích. Trước chuyến đi tôi hy vọng mình sẽ có những trải nghiệm thật sự. Bình thường đi xe hơi ta sẽ không cảm nhận được gì nhiều, thay vào là họ đi xe máy. Nhưng cũng còn nhiều hạn chế trong việc tiếp nhận những cảm xúc: thế là có người đề ra xe đạp và mấy ai nghĩ là đi bộ... trong khi nó là con đường ngắn nhất để ta có thể hòa nhịp vào cuộc sống, với thiên nhiên và với cả thế giới. Tôi muốn cho mình trải nghiệm cái cảm giác đấy vàà tôi đã có. Tuyệt vời hơn là tôi lại có thêm những giá trị vô hình, cái mà tôi không biết trước nhưng sau chuyến đi tôi cảm nhận được rất sâu sắc. Đó là thứ gì đó cao hơn, sâu hơn. Nhìn tất cả với sự thấu hiểu, của cái nhìn xuống, tự tin và khinh khỉnh. Còn cái gì đáng giá hơn để đánh đổi?
< Trên đường về gặp bà lão. Ở đây những người bán hàng rong không thích chụp hình.
Vừa đi vừa rêu rao. Chuyến xe thả tôi ở đường Võ Thị Sáu khúc Lê Văn Tám, mặc dù có thể bắt chuyến bus 18 về Bến Thành rồi đi bộ tầm 1km là tới nhà, nhưng sẵn đà quen chân tôi cuốc bộ thẳng về nhà. Cảm giác thật khác lạ, như xa quê hương lâu ngày mới trở lại, mọi thứ cứ nhưlâu lắm rồi. Tôi đi không nghỉ chút nào, lèo một cái đã tới nhà thờ Đức Bà, đúng ở nơi mà tôi đã từ biệt bạn bè lúc lên đường.
Cố gắng tìm lại những dấu ấn kỷ niệm xưa, chụp choẹt một chút, hít thở một chút rồi tiến thẳng về nhà - nhớ nhà lắm rồi. Về nhà là có ngay ly nước bưởi mát lạnh mẹ mới ép mới thật đã, thật sảng khoái làm sao. Khác hẳn những ngày hôm trước, cái gì cũng phải tự mình lo, từ cái dép, cái thuốc, cái nước uống, cái ăn dọc đường. Về nhà là chẳng lo cái gì, cứ như bước từ thế giới này qua thế giới khác vậy!
Kết thúc chuyến đi nhìn lại nó cứ ngỡ như giấc mơ, thoáng qua nhưng mát mẻ. Biết rằng cuộc vui nào rồi sẽ có lúc tàn, cảm giác có lúc rồi cũng sẽ phai nhạt, những kỷ niệm, những thời khắc cũng sẽ dần lãng quên. Cuộc đời thật ác nghiệt. Nhưng nó là vậy, ta sống ở trong nó ta bắt buộc phải là vậy. Trên đời không có gì là hoàn mỹ, tất cả đều là khiếm khuyết, nhưng trên hết ta biết buông bỏ và hướng về phía trước.
Thật ra đi bộ 100km cũng không phải cái gì ghê gớm, quan trọng là bạn dám làm hay không, dám thức dậy sớm và dám ra khỏi nhà để bứt khỏi cuộc sống thường nhật hay không. Tôi hay phải đấu tranh với nó lắm, nhất là những lúc đi một mình.
Đừng bao giờ bỏ cuộc, ngay cả trong ý nghĩ. Khi đi tôi thường hay tưởng tượng vui rằng: hay mình sẽ bỏ cuộc nhỉ, bắt xe bus về ngay luôn, thế thì sẽ sướng lắm. Rồi cười hì hì. Có lần, đoạn Long Sơn bác xe ôm nói. "Con lên xe bác chở, ai biết con lên xe đâu mà l?". Con không lo ai biết, chính bản thân con biết là quá đủ rồi, nó khiến ta trở thành một thứ gì đó khác, rất khác!
100 km sẽ là dễ ợt nếu bạn đi trong 100 ngày: mỗi ngày 1km. Quan trọng là ở thời gian, nó là cốt lõi của vấn đề. Bạn sống đến 100 tuổi nhưng hời hợt, chẳng khác gì bạn chết ỉu hơn 1 người sống 50 nhưng biết quý trọng thời gian.
Trên đời còn rất nhiều người tốt, nếu bạn thấy họ xấu, chẳng qua bạn chưa thật sự lại đủ gần.
Cười đi, đừng ngại. Nhìn thẳng vào mắt họ mà nở nụ cười. Đời có bao lâu mà hững hờ...
Hết
Phamhung186
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4
- Theo Phuot.vn
Có lần tôi nghe từ một số ý kiến: Sợ thật ra nó là một chất gây nghiện, nó làm con người ta đê mê, chìm đắm và để rồi họ sống không thể thiếu nó. Trong những lúc sợ hãi họ cảm thấy họ chính là bản thân mình, chạm đc vào cái tôi bản thể ẩn sâu trong đáy lòng họ, và đó là những khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong cuộc đời.
Thèm muốn, họ tiếp tục lên đường tìm cho mình những thử thách mới, đối mặt với nó, vượt qua và hả hê cùng những chiến tích đã qua. Cuộc đời của kẻ lệ thuộc vào nỗi sợ nó cứ thế tiếp diễn, để đến khi nhìn lại, mệt mỏi và chán chường, rồi cũng có lúc yên vị, họ tìm cho mình sự viên mãn, để lại cho quá khứ tuổi trẻ vẫy vùng, đắm hết mình cùng những đam mê nông nổi. Lồng ngực rộn ràng, họ tự hào biết mấy.
< Nestea trên đường quốc lộ.
Hình như tôi cũng đang dần thành một tín đồ: Những chuyến đi, những con đường, những khoảnh khắc... nỗi sợ đều mang cho tôi những hương vị đặc biệt. Nó cứ như một cô gái vậy, quyến rũ nhưng cũng khiến dễ làm con người sụp đổ. Đã lỡ yêu thì chỉ nghĩ về nó trong từng khoảnh khắc mà thôi.
Còn nhớ cái cảm giác sau khi vượt qua nỗi sợ hôm đó. Chẳng có gì. Đơn giản bởi vì nó đã qua, cái thực sự đáng giá là cái đang diễn ra và cái thứ vô hình mà nó đang dần ngấm vào con người bạn. Ngấm chứ, hay còn dư âm tôi cũng không biết chắc, chẳng biết chắc được gì, chỉ biết tôi đang sống, và tôi đã qua, nó đã và đang khác dần đi.
Buổi sáng hôm đó là ngày đẹp nhất, con đường đầy hoa, mặt đường không một gơn sỏi, bầu trời không có một gợn nắng. Tôi mang trong mình với niềm hớn hở của một đứa trẻ thèm kẹo, đi bon bon, thèm cái mùi của biển.
Đưa bàn tay lên hứng từng lọn gió mặn chát, biển gần tới rồi, cố lên, chưa bao giờ tao yêu mày đến vậy, hoặc giả có là ghét, thì đó cũng là thứ nhất trần đời. Tôi đi theo con đường 3/2 cứ nghĩ như dài vô tận, đi qua biết bao nhiêu những cái cây ven đường, những vết lằn đỏ trắng, nhưng con lươn báo hiệu, con đường đẹp đấy, nhưng sao chán ngán, cứ đều đều vô vị.
Lúc đó tôi ước gì bầu trời xám xịt trên kia đầy những ánh nắng táp thẳng vào mặt, nheo mắt nhíu màu mà cảm hết cái vị ran rát của nó. Phải chi mà xung quanh đường là những cánh đồng lúa trải về thẳng chân trời để mỗi khi ngồi nghỉ tôi lại được cớ mơ mộng viển vông, phải chi đâu đó có 1 bà lão đi chợ sớm, còng lưng mà cặm cũi khiến cho kẻ xa xứ được thỏa ước nương theo...
Phải chi mà được như thế nhỉ. Nó làm tôi liên tưởng tới cuộc đời. Có đôi khi tôi cũng muốn có việc làm tốt nào đó, bàn giấy sổ sách, xung quanh là bức tường, tiền nhiều lương cao, nhưng thật sự đó có phải là điều tôi muốn. Cái tôi muốn là đam mê của mình, sống cùng nó, thở cùng nó và đi cùng nó đến hết cuộc đời. Để rồi bây giờ khi nhìn cái con đường như những bức tường bao quanh mà không còn chút hứng thú, chỉ còn cái trách nhiệm hoàn thành chuyến đi là thôi thúc cho tôi.
Lầm lũi mãi, cự nự mãi, thở dài mãi tôi cũng hết đc 2/3 chặng đường. Ngồi dừng lại quán nước mía ven đường, làm quen cùng cô chủ quán tốt bụng. Hình như ai nghe tôi đi bộ tới đây cũng đều tốt bụng thì phải, họ trìu mến hơn, dễ thương hơn.
Có lẽ tôi cũng vậy thôi, đi chuyến này tôi gặp cho mình rất nhiều người tốt, những tấm lòng rộng mở, nó là dành cho tôi và tôi đón nhận nó với sự cảm thông cao nhất. Tôi biết ơn họ, thấm nhuần họ và cũng sẽ tiếp nối họ. Nếu sau này có gặp 1 người cũng đi bộ thế này thì chắc chắn tôi cũng làm như họ, cái tốt được tiếp nối, tình yêu được nhân lên, thế giới sẽ tràn đầy tiếng cười trong sự cảm thông và chia sẻ -một thế giới hoàn mỹ.
< Đời tôi nhỏ bé trước những khát khao chìm trong nỗi đau.
Dọc trên cong đường Thùy Vân, cuối cùng cũng nhìn thấy biển. Ngồi một mình thẫn thờ ngắm biển, ngắm người người tấp nập đi ngang qua, con bé nghịch cát, bà bán cá viên, những bác thợ chụp ảnh, những cặp tình nhân... rất nhiều. Sao thấy trống vắng quá, hụt hẫng và tiêu điều. Tôi dạo một vòng khoảng 5 phút, chụp hình, rồi xách balo đi về. Cũng tính ở lại lâu lâu nhưng khi tới đây rồi chỉ muốn về, đơn giản là đã hết mục tiêu có ở lại cũng chẳng làm gì. Nhớ nhà, nhớ bữa ăn gia đình, nhớ bạn bè, nhớ thằng nhỏ hàng xóm, nhớ nhiều lắm. Cái suy nghĩ nếu bây giờ bắt xe về thì khoảng 2 tiếng sau sẽ có mặt ở Sài Gòn khiến tôi không kiềm chế được.
< Nhờ bác chụp hình dạo chụp cho một pô. Bác ấy có vẻ chạnh lòng, rồi bla bla gì về nghề nghiệp. Tớ không muốn nghe lắm, cái tớ muốn là một tấm hình...
Thế là kết thúc chuyến đi, chống vánh như một nốt nhạc lạc điệu. Có là sao? tôi chẳng muốn là một bản nhạc nào cả, cái tôi muốn là tôi đã đánh đàn. Bây giờ đang trên chuyến xe Phương Nam tiến thẳng về Sài Gòn, yên vị trong một góc nào đó... nhìn ra ngoài cửa sổ thấy con đường mình mới đi hôm nào. Bất chợt tôi thấy được hình ảnh của mình: thằng đàn ông với cây gậy làm bạn đường, cái balo nặng trĩu, cái túi ngủ lủng lẳng, và trên ngực là lá cờ đỏ sao vàng.
Lầm lũi, cô đơn nhưng tràn đầy niềm tin vào mục đích của mình. Nói về mục đích. Nhiều người hỏi tôi đi làm gì? tại sao không đi xe máy? ai bắt ép à? xe bị sao à?... nhiều lắm, dọc đường hầu như ai cũng hỏi. Nói ra thì cũng chẳng dài dòng, đơn giản vì tôi thích, thế là đi - Thế thôi. Mà trả lời vậy nhiều người lại nói mình khùng, mình điên này nọ. Mệt mỏi, đi để giảm cân chú ạ, bác ạ, chị ạ... Thế là xong chuyện.
Cũng lại đề cập tới vấn đề mục đích. Trước chuyến đi tôi hy vọng mình sẽ có những trải nghiệm thật sự. Bình thường đi xe hơi ta sẽ không cảm nhận được gì nhiều, thay vào là họ đi xe máy. Nhưng cũng còn nhiều hạn chế trong việc tiếp nhận những cảm xúc: thế là có người đề ra xe đạp và mấy ai nghĩ là đi bộ... trong khi nó là con đường ngắn nhất để ta có thể hòa nhịp vào cuộc sống, với thiên nhiên và với cả thế giới. Tôi muốn cho mình trải nghiệm cái cảm giác đấy vàà tôi đã có. Tuyệt vời hơn là tôi lại có thêm những giá trị vô hình, cái mà tôi không biết trước nhưng sau chuyến đi tôi cảm nhận được rất sâu sắc. Đó là thứ gì đó cao hơn, sâu hơn. Nhìn tất cả với sự thấu hiểu, của cái nhìn xuống, tự tin và khinh khỉnh. Còn cái gì đáng giá hơn để đánh đổi?
< Trên đường về gặp bà lão. Ở đây những người bán hàng rong không thích chụp hình.
Vừa đi vừa rêu rao. Chuyến xe thả tôi ở đường Võ Thị Sáu khúc Lê Văn Tám, mặc dù có thể bắt chuyến bus 18 về Bến Thành rồi đi bộ tầm 1km là tới nhà, nhưng sẵn đà quen chân tôi cuốc bộ thẳng về nhà. Cảm giác thật khác lạ, như xa quê hương lâu ngày mới trở lại, mọi thứ cứ nhưlâu lắm rồi. Tôi đi không nghỉ chút nào, lèo một cái đã tới nhà thờ Đức Bà, đúng ở nơi mà tôi đã từ biệt bạn bè lúc lên đường.
Cố gắng tìm lại những dấu ấn kỷ niệm xưa, chụp choẹt một chút, hít thở một chút rồi tiến thẳng về nhà - nhớ nhà lắm rồi. Về nhà là có ngay ly nước bưởi mát lạnh mẹ mới ép mới thật đã, thật sảng khoái làm sao. Khác hẳn những ngày hôm trước, cái gì cũng phải tự mình lo, từ cái dép, cái thuốc, cái nước uống, cái ăn dọc đường. Về nhà là chẳng lo cái gì, cứ như bước từ thế giới này qua thế giới khác vậy!
Kết thúc chuyến đi nhìn lại nó cứ ngỡ như giấc mơ, thoáng qua nhưng mát mẻ. Biết rằng cuộc vui nào rồi sẽ có lúc tàn, cảm giác có lúc rồi cũng sẽ phai nhạt, những kỷ niệm, những thời khắc cũng sẽ dần lãng quên. Cuộc đời thật ác nghiệt. Nhưng nó là vậy, ta sống ở trong nó ta bắt buộc phải là vậy. Trên đời không có gì là hoàn mỹ, tất cả đều là khiếm khuyết, nhưng trên hết ta biết buông bỏ và hướng về phía trước.
Thật ra đi bộ 100km cũng không phải cái gì ghê gớm, quan trọng là bạn dám làm hay không, dám thức dậy sớm và dám ra khỏi nhà để bứt khỏi cuộc sống thường nhật hay không. Tôi hay phải đấu tranh với nó lắm, nhất là những lúc đi một mình.
Đừng bao giờ bỏ cuộc, ngay cả trong ý nghĩ. Khi đi tôi thường hay tưởng tượng vui rằng: hay mình sẽ bỏ cuộc nhỉ, bắt xe bus về ngay luôn, thế thì sẽ sướng lắm. Rồi cười hì hì. Có lần, đoạn Long Sơn bác xe ôm nói. "Con lên xe bác chở, ai biết con lên xe đâu mà l?". Con không lo ai biết, chính bản thân con biết là quá đủ rồi, nó khiến ta trở thành một thứ gì đó khác, rất khác!
100 km sẽ là dễ ợt nếu bạn đi trong 100 ngày: mỗi ngày 1km. Quan trọng là ở thời gian, nó là cốt lõi của vấn đề. Bạn sống đến 100 tuổi nhưng hời hợt, chẳng khác gì bạn chết ỉu hơn 1 người sống 50 nhưng biết quý trọng thời gian.
Trên đời còn rất nhiều người tốt, nếu bạn thấy họ xấu, chẳng qua bạn chưa thật sự lại đủ gần.
Cười đi, đừng ngại. Nhìn thẳng vào mắt họ mà nở nụ cười. Đời có bao lâu mà hững hờ...
Hết
Phamhung186
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4
- Theo Phuot.vn
Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013
Những điểm đen trên đường chinh phục Fansipan
Ngọn Fansipan cao nhất dãy Hoàng Liên Sơn nên đây là điểm đến hấp dẫn với những người yêu thích môn leo núi... nhưng hãy ghi nhớ những điểm nguy hiểm dưới đây để có một chặng đường chinh phục nóc nhà Đông Dương một cách an toàn.
< Bình minh trên Phăng Xi Păng.
Leo Fansipan hiện trở thành một trong những tour chính của Sapa. Để đảm bảo an toàn cho du khách và bảo vệ rừng khỏi nguy cơ ô nhiễm hay cháy, đường leo Fansipan xuất phát từ ba điểm gồm Trạm Tôn, Sín Chải và Cát Cát, đều phải đi qua là điểm dừng chân ở độ cao 2.200m, 2.800m và đỉnh núi.
< Địa hình dốc xuống với những vách đá trơn nhẵn đầy nguy hiểm và thử thách.
Tại điểm cao 2.200m và 2.800m có các lán trại dựng sẵn, bếp để nấu ăn và một cửa hàng nhỏ bán các nhu yếu phẩm. Tùy vào lịch trình, các công ty tổ chức tour sẽ sắp xếp các điểm nghỉ chân hoặc nghỉ đêm tại hai điểm nói trên, hoặc có thể ngủ giữa rừng đối với những cung đường dài ngày.
Điểm nguy hiểm từ Sín Chải và Trạm Tôn
Từ điểm cao 2.700m theo đường Sín Chải, bạn phải leo bằng dây thừng để lên cao hơn. Dù chỉ là một đoạn ngắn nhưng khá nguy hiểm. Đây là đoạn đường đòi hỏi nhiều sức khỏe và kinh nghiệm leo núi. Từ điểm trại 2.800m lên đến đỉnh núi thực sự là một cung đường khó khăn, nhiều nguy hiểm, nên hết sức thận trọng và chú ý khi di chuyển qua đoạn đường này.
< Thang sắt để vượt qua những vách núi dựng đứng.
Theo Nguoidulich.info, đoạn từ điểm cao 2.800m đến 2.900m chủ yếu di chuyển qua khu rừng trúc, địa hình dốc lên liên tục, nhiều đoạn phải dùng tới thang sắt để vượt qua. Từ điểm này lên 3.000m sẽ phải đi qua rừng trúc lùn bằng đường mòn có tay vịn, vượt qua các vách đá dựng đứng và khoảng hơn 100m cuối cùng đường lầy lội để có thể chạm tay vào cột mốc huyền thoại trên đỉnh Fansipan.
Khi di chuyển qua các đoạn đường khó này, người leo núi phải hết sức tập trung vì đường đi gây mất sức và địa hình nguy hiểm gây xáo trộn tâm lí. Đặc biệt, khi di chuyển ở đoạn đường từ điểm cao 2.600m lên 3.000m vào mùa gió to, có mưa lại càng phải cẩn thận hơn nữa để đảm bảo an toàn cho bản thân.
Điểm nguy hiểm từ Cát Cát
Đường từ phía Cát Cát đi vòng xa hơn và địa hình có nhiều thay đổi hơn cả. Từ đây, bạn phải đi men theo những ngọn núi thấp, xuyên qua những cánh rừng và đi ngược thác để vượt núi.
Từ ngày thứ hai của cuộc hành trình, điểm cao 1.800m dốc ngược theo một dòng thác dựng đứng với những khối đá tảng trơn trượt. Bạn phải bám vào những phiến đá này để leo lên điểm cao 2.000m. Con đường này di chuyển qua rất nhiều con suối rừng sẽ trở thành những dòng sông hung bạo vào mùa mưa. Từ điểm cao 2.000m, người leo núi di chuyển bằng cách bám vào những rễ cây cổ thụ rất dễ trơn trượt. Vùng rừng này ẩm thấp, nhiều thảm lá mục dày lẫn với bùn nhão lún bước chân.
Một cách vượt thác an toàn và di chuyển từ đá tảng này sang đá tảng khác là nắm chắc những thân trúc và trượt theo thân cây xuống dần. Trong trường hợp không an tâm với độ bám của chân mình, hãy dùng cả mông và lưng để trườn xuống. Các nhóm khi leo cần hỗ trợ nhau để cùng nhau vượt qua những điểm khó nhất.
Ngoài những đoạn nguy hiểm có thể nhìn thấy, còn rất nhiều nguy hiểm rình rập khác nếu bạn không cẩn thận. Hãy chọn cho mình một lịch trình phù hợp nhất, những người bạn đồng hành tin cậy, đầy đủ đồ phục vụ cho chuyến đi tốt nhất để có một hành trình an toàn.
- Theo Lam Linh (VnExpress), internet
< Bình minh trên Phăng Xi Păng.
Leo Fansipan hiện trở thành một trong những tour chính của Sapa. Để đảm bảo an toàn cho du khách và bảo vệ rừng khỏi nguy cơ ô nhiễm hay cháy, đường leo Fansipan xuất phát từ ba điểm gồm Trạm Tôn, Sín Chải và Cát Cát, đều phải đi qua là điểm dừng chân ở độ cao 2.200m, 2.800m và đỉnh núi.
< Địa hình dốc xuống với những vách đá trơn nhẵn đầy nguy hiểm và thử thách.
Tại điểm cao 2.200m và 2.800m có các lán trại dựng sẵn, bếp để nấu ăn và một cửa hàng nhỏ bán các nhu yếu phẩm. Tùy vào lịch trình, các công ty tổ chức tour sẽ sắp xếp các điểm nghỉ chân hoặc nghỉ đêm tại hai điểm nói trên, hoặc có thể ngủ giữa rừng đối với những cung đường dài ngày.
Điểm nguy hiểm từ Sín Chải và Trạm Tôn
Từ điểm cao 2.700m theo đường Sín Chải, bạn phải leo bằng dây thừng để lên cao hơn. Dù chỉ là một đoạn ngắn nhưng khá nguy hiểm. Đây là đoạn đường đòi hỏi nhiều sức khỏe và kinh nghiệm leo núi. Từ điểm trại 2.800m lên đến đỉnh núi thực sự là một cung đường khó khăn, nhiều nguy hiểm, nên hết sức thận trọng và chú ý khi di chuyển qua đoạn đường này.
< Thang sắt để vượt qua những vách núi dựng đứng.
Theo Nguoidulich.info, đoạn từ điểm cao 2.800m đến 2.900m chủ yếu di chuyển qua khu rừng trúc, địa hình dốc lên liên tục, nhiều đoạn phải dùng tới thang sắt để vượt qua. Từ điểm này lên 3.000m sẽ phải đi qua rừng trúc lùn bằng đường mòn có tay vịn, vượt qua các vách đá dựng đứng và khoảng hơn 100m cuối cùng đường lầy lội để có thể chạm tay vào cột mốc huyền thoại trên đỉnh Fansipan.
Khi di chuyển qua các đoạn đường khó này, người leo núi phải hết sức tập trung vì đường đi gây mất sức và địa hình nguy hiểm gây xáo trộn tâm lí. Đặc biệt, khi di chuyển ở đoạn đường từ điểm cao 2.600m lên 3.000m vào mùa gió to, có mưa lại càng phải cẩn thận hơn nữa để đảm bảo an toàn cho bản thân.
Điểm nguy hiểm từ Cát Cát
Đường từ phía Cát Cát đi vòng xa hơn và địa hình có nhiều thay đổi hơn cả. Từ đây, bạn phải đi men theo những ngọn núi thấp, xuyên qua những cánh rừng và đi ngược thác để vượt núi.
Từ ngày thứ hai của cuộc hành trình, điểm cao 1.800m dốc ngược theo một dòng thác dựng đứng với những khối đá tảng trơn trượt. Bạn phải bám vào những phiến đá này để leo lên điểm cao 2.000m. Con đường này di chuyển qua rất nhiều con suối rừng sẽ trở thành những dòng sông hung bạo vào mùa mưa. Từ điểm cao 2.000m, người leo núi di chuyển bằng cách bám vào những rễ cây cổ thụ rất dễ trơn trượt. Vùng rừng này ẩm thấp, nhiều thảm lá mục dày lẫn với bùn nhão lún bước chân.
Một cách vượt thác an toàn và di chuyển từ đá tảng này sang đá tảng khác là nắm chắc những thân trúc và trượt theo thân cây xuống dần. Trong trường hợp không an tâm với độ bám của chân mình, hãy dùng cả mông và lưng để trườn xuống. Các nhóm khi leo cần hỗ trợ nhau để cùng nhau vượt qua những điểm khó nhất.
Ngoài những đoạn nguy hiểm có thể nhìn thấy, còn rất nhiều nguy hiểm rình rập khác nếu bạn không cẩn thận. Hãy chọn cho mình một lịch trình phù hợp nhất, những người bạn đồng hành tin cậy, đầy đủ đồ phục vụ cho chuyến đi tốt nhất để có một hành trình an toàn.
- Theo Lam Linh (VnExpress), internet
'Kỳ quan' bị lãng quên trên thánh địa phượt
Không bắt mắt, không hùng vĩ, nhưng đó thực sự là một kỳ quan được tạo nên bởi nỗ lực phi thường của bàn tay con người.
< Tận dụng mọi khe đá để trồng bắp.
Ðúng với tên gọi của nó, suốt cung đường từ TP Hà Giang, đến dốc Bắc Sum, ngược lên cổng trời Quản Bạ, đèo Cán Tỷ, qua Yên Minh, Mậu Duệ, Ðồng Văn, qua cung đường tình yêu Mã Pí Lèng để dừng chân nơi Mèo Vạc, đâu đâu cũng thấy núi là núi. Ðá chồng lên đá, đá đan vào đá chạy sát theo những cung đường cua tay áo và dốc đứng đến rợn người.

< Bấy lâu nay, miền đất địa đầu Hà Giang được coi như một "địa chỉ đỏ" của dân phượt...
Ðứng trên đỉnh Mã Pí Lèng, một bên là núi đá cao sừng sững, một bên là vực sâu thăm thẳm, phóng tầm mắt nhìn bao quát một vùng cao nguyên rộng lớn, mới thấy hết sự hào phóng, kỳ vĩ của đất trời.
Ðiểm nhấn lãng mạn giữa núi non hiểm trở là dòng Nho Quế mềm như vạt eo con gái, uốn lượn quanh các khe núi hẹp. Mùa này dòng Nho Quế đang cạn nước nhưng cũng đủ làm say lòng du khách, xua đi cái khô cằn và khắc nghiệt của bốn bề núi đá bao vây. Ðèo Mã Pí Lèng thuộc huyện Mèo Vạc, có chiều dài khoảng 20 km. Ðây được coi là nơi hiểm trở nhất của cao nguyên đá.
< ... với những ruộng bậc thang tuyệt mỹ...
Có nhiều câu chuyện kể về việc phá đá mở đường đoạn đèo này, với những chi tiết hết sức cảm động. Toàn tuyến đường Hà Giang - Ðồng Văn - Mèo Vạc dài chừng 165 km được làm trong năm năm, nhưng riêng đoạn đèo này phải thi công tới hai năm mới hoàn thành.
Hơn một nghìn thanh niên xung phong từng treo mình trên vách đá suốt 11 tháng ròng, đục từng lỗ mìn phá đá. Hiện nơi đây còn lưu giữ đài tưởng niệm ghi danh những con người dũng cảm, ngoan cường làm nên tuyến đường đèo ấy.
< ... với các cung đường uốn lượn đẹp như mơ, những đỉnh vách núi đá cao kỳ vĩ...
Giờ đây, Mã Pí Lèng được gọi là cung đường tình yêu. Không ai nhớ xuất xứ của cái tên lãng mạn ấy. Phải chăng vì nó là con đường đèo nguy hiểm nhất, là thử thách cuối cùng để đến được chợ tình Khau Vai huyền thoại. Như câu dân ca da diết của người Mông "Anh như con chim bay nhiều mỏi cánh/Tìm đến cành em mà đậu/Em như cành khô bấy lâu/Chờ con chim mỏi cánh bay về/Ðợi anh qua mùa lanh/Ðợi anh qua mùa đào/ Vượt đỉnh Mã Pí Lèng/Ta tìm về với chợ tình Khau Vai".
< Nhưng ít ai để ý đến một cảnh tượng không bắt mắt, không hùng vĩ, nhưng lại thực sự là một 'kỳ quan' được tạo nên bởi nỗ lực phi thường của bàn tay con người: Những ruộng ngô vươn mình giữa núi đá tai mèo cằn cỗi và hiểm trở.
Nếu như cung đường Hà Giang - Ðồng Văn - Mèo Vạc quyến rũ bởi sự nguy hiểm, sợ hãi nín thở nhưng đẹp đến ngỡ ngàng thì điều ám ảnh chúng tôi suốt hành trình lại là sức sống của cao nguyên đá được tạo nên bởi chính những con người nơi đây.

< Cao nguyên đá nổi tiếng là vùng đất khắc nghiệt vì nơi đây chỉ có những ngọn núi đầy đá tai mèo, rất khó khăn cho hoạt động trồng trọt.
Giữa điệp trùng núi đá, những mầm ngô vẫn vươn mình lên xanh tốt. Ngô là loại cây duy nhất có thể sinh trưởng ở mảnh đất khắc nghiệt này, cũng là loại cây nuôi sống đồng bào bao đời nay.
Trên đường Ðồng Văn xuôi Lũng Cú, chúng tôi gặp chị Thùa Thị Thoong đang gùi đất từ vùng thấp để đổ vào từng hốc đá trên cao nguyên trồng ngô.
< Ngô là loại cây duy nhất có thể sinh trưởng ở mảnh đất này và là loại cây nuôi sống đồng bào từ bao đời nay.
Giữa những mô đá tai mèo sắc nhọn tưởng như có thể đâm nát chân người, vẫn thừa ra những khe hở, chị Thoong đã tận dụng chúng, đổ đất gieo hạt. Chồng mất sớm, nhà chị Thoong giờ có năm miệng ăn. Lúa không có, chỉ trồng ngô cho nên cơm chỉ là món hy hữu trong bữa ăn thường ngày.
Bốn đứa trẻ sàn sàn tuổi đến trường nhưng chẳng đứa nào đi học. Chúng như bao đứa trẻ tôi gặp trên chặng đường đi, nói tiếng Kinh bập bõm, đầu trần, chân đất, quần áo bạc mầu, cáu bẩn. Ðứa bé lang thang chơi trên núi đá, đứa lớn hơn theo mẹ gùi đất gieo hạt. Cuộc sống chỉ là mong thoát đói thì làm sao chúng dám ước đến trường?
Ði sâu vào Cột Cờ Lũng Cú, càng gặp nhiều hơn khung cảnh bà con cần mẫn lao động, phần lớn vẫn là căn từng hốc đá để trồng ngô...
< Để có thể trồng ngô, người nông dân nơi đây phải xuống vùng thấp để lấy đất gùi lên núi, đổ vào từng khoảng trống giữa những khối đá tai mèo sắc nhọn để gieo hạt.
Cụ Già Giống Na năm nay đã gần 90 tuổi vẫn đang cùng con cháu gieo hạt trong cái nắng rát những ngày đầu hạ. Cụ nói tiếng Kinh khá rõ. Nhà cụ chủ yếu trồng ngô, chỉ gieo được ít lúa bên khoảnh đất bằng phẳng trước nhà. Thế cũng là tốt lắm rồi đấy - cụ nói - Ở những bản sâu trong núi đá kia còn nhiều hộ nghèo lắm đó. Vì đất trồng lúa hiếm lắm, đến kẽ đá trồng ngô cũng khó tìm. Bây giờ đang là mùa giáp hạt.
Cũng thời điểm này chừng mười năm về trước, gần như cả bản không có gạo ăn, nhà nào còn ngô là may mắn lắm.
Nhưng mấy năm nay, trồng lúa được mùa hơn và giống ngô tốt cũng cho nhiều bắp, cho nên bà con dành dụm được cho những ngày giáp hạt. Mùa này, mỗi ngày chỉ một bữa cơm thôi, còn ăn mèn mén, uống rượu ngô suông- cụ cười nói như đó là chuyện thường tình ở vùng đất này bao đời nay rồi.
Xã Lũng Cú, huyện Ðồng Văn vốn được ví như xã Ðất Mũi của Cà Mau, heo hút và trắc trở. Từ Ðồng Văn đến trung tâm xã là cung đường 26km, cũng vẫn điệp khúc dốc cua tay áo, núi cao và vực sâu.
< Trải qua bao nhiêu năm, những ruông ngô dần dần phủ lên mảng màu xanh như không hề có sự sống của đá tai mèo.
Ðồng bào Mông, Lô Lô trồng lúa, trồng ngô mỗi năm chỉ được một vụ cho nên đời sống hết sức khó khăn. Cả xã có chín thôn bản, thì có đến tám thôn giáp biên, đều ở độ cao trung bình từ 1.600 đến 1.800 m so với mực nước biển.
< Nhiều sườn dốc phủ một màu xanh mơn mởn giữa đá.
Chúng tôi gặp anh Vàng Mí Cấu, Bí thư xã còn rất trẻ, người dân tộc Mông. Giọng nói khê mùi thuốc lào, anh tính, cả xã có hơn 800 hộ dân thì có đến hơn một nửa là hộ nghèo. Nói là nghèo nhưng thực chất vẫn còn những hộ đói, mùa giáp hạt vẫn phải chờ vào cứu trợ gạo của Nhà nước và địa phương.
Ðó là bà con ở những vùng có địa hình quá dốc, chỉ toàn núi đá, không thể trồng trọt hay chăn nuôi gì được. Giọng anh như sáng hơn khi nói về chương trình xây dựng nông thôn mới ở ba thôn Lô Lô Chải, Thèn Pả và Xín Mần với những thành tích được tính bằng bể nước, sân phơi, nhà tắm, nhà vệ sinh và chuồng gia súc. Nhất là 1,7 km đường bê-tông liên thôn.
< Những ruộng ngô nằm chênh vênh bên các hẻm vực sâu thăm thẳm như thách thức sự nghiệt ngã của đất trời.
Ở vùng núi đá này, con số ấy là nỗ lực lớn của chính quyền xã và bà con thôn bản. Khi được hỏi về những khó khăn của bà con trong phát triển sản xuất, giọng anh như chùng xuống: Nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước đã quan tâm đến đời sống của đồng bào dân tộc, nhất là với Lũng Cú - một xã biên giới phía bắc huyện Ðồng Văn. Cuộc sống bà con nhờ thế cũng thay đổi nhiều, nhưng cũng chỉ mới xóa đói chứ để giảm được nghèo vẫn là vô cùng khó vì sản xuất nông nghiệp ở vùng núi đá là thách thức lớn. Với 80% địa hình là đồi núi dốc, khí hậu khắc nghiệt, mùa khô hạn hán, mùa mưa lại đối mặt với lũ quét, mưa đá và sạt lở, cây lúa khó trồng, cây ngô vùi mình trong hốc đá, thì người dân thật khó có cơ hội thoát nghèo bền vững.
< Không có vách đá nào bỏ không cả, tất cả là những đồng ngô nhỏ.
Chúng tôi chạm đỉnh Mèo Vạc khi chợ phiên đã bắt đầu đông. Tiết trời đầu hạ, nắng vàng như rót mật. Một cảm giác say mê ngay lập tức len nhẹ trong lòng khi thấy những em gái Mông má hồng như nỗi nhớ, váy áo hoa văn sặc sỡ, xập xòe nổi bật giữa khung cảnh ồn ã của chợ phiên. Phía kia là những phụ nữ Mông đang thử rượu ngô cho chồng - một cảnh mà tôi nghĩ chẳng nơi nào có được, ngoài những phiên chợ của vùng cao nguyên đá.
< Ngô che khuất cả đá...
Xa xa là hai vợ chồng già dắt nhau xuống chợ, ngồi thưởng thức một bát thắng cố bên bếp lửa nghi ngút khói. Một ông già cô độc ngồi giữa chiếc ghế dài cuối chợ rít hơi thuốc lào sảng khoái.
Nhập vào quán rượu giữa chợ, chàng trai người Mông nom hiền lành nhường tôi một góc ghế dài. Quán chỉ rặt những rượu suông, thuốc lào, chén, bát. "Chén để uống rượu, bát cũng để uống rượu, khi đã ưng nhau rồi thì phải uống bằng bát"- anh người Mông Lò Mí Pố nói với tôi như thế. Anh Pố không nói được tiếng Kinh nhiều.
< Để có thể thu hoạch được những gùi ngô trĩu nặng như thế này, con người của cao nguyên đá phải vượt qua vô vàn trở ngại, từ địa hình hiểm trở cho đến khí hậu khắc nghiệt, hạn hán vào mùa khô, lũ quét mùa mưa.
Hôm nay là chợ phiên, vợ chồng anh Pố, chị Già lên chơi chợ. Chị Già giải thích: Ði làm suốt mà, ngày chợ đi chơi thôi. Mình không đi mua gì, nhà có rau, có mèn mén ăn rồi. Chỉ có hôm thiếu gạo thôi. - Thiếu gạo à, nhà có trồng lúa không? - Không có đất trồng lúa đâu, chỉ trồng ngô thôi. Sự xa lạ nhanh chóng trở nên thân mật với những con người vốn hiền hành, thật thà như đếm. Tôi vui vẻ hỏi: Ở nhà Pố có uống nhiều rượu không, hay chỉ lên chợ mới uống. - Ở nhà cũng uống chứ- vợ anh nhanh nhảu trả lời. Còn uống rượu thay nước vào những mùa khát mà. Mùa khát - đó là chị Già nói đến mùa khô- từ khoảng tháng mười đến hết tháng tư, cao nguyên đá bắt đầu thiếu nước.
< Hốc đá chỉ bằng cái bát cũng đủ để đưa đất vào cho cây ngô mọc.
Mặc dù cả bốn huyện vùng cao nguyên đá Ðồng Văn đều có "hồ treo" được xây dựng ở những vị trí thung lũng để lấy nước từ vách núi đá chung quanh, nhưng dung tích hồ cùng lượng nước không đủ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân. Khi mùa khô đến, nhiều hồ treo trơ cạn đáy, người dân phải dành dụm, dè sẻn từng giọt nước để dùng. Ðối mặt với cái ăn, cái mặc đã nhọc nhằn, đồng bào nơi đây còn phải gồng mình đi qua những mùa khát cơ cực. Lại nhớ lời Bí thư xã Lũng Cú Vàng Mí Cấu: Ở miền xuôi, xây dựng nông thôn mới là những con số về thu nhập bình quân đầu người, mô hình sản xuất kinh tế... Nhưng với đồng bào vùng cao, xây được bể nước đã là một tiêu chí lớn.
< Thành của lao động của họ là minh chứng hùng hồn cho câu "Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm".
Trở về Hà Nội từ Mèo Vạc, bỗng nhớ quay quắt những con người nơi cao nguyên đá. Nhớ những cây sa mộc lặng lẽ trong thung vươn mầu xanh tương phản với sắc xám ngoét của đá, chấp nhận cả hanh khô và nắng lửa, cả cái rét tái tê, bốn mùa không rụng lá. Có cảm giác người dân cao nguyên này cũng giống những cây sa mộc, kiên nhẫn và kiên cường đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt, lặng thầm lèn đất, lèn nước vào đá mà gieo lúa, trồng ngô. Nhưng dường như trong câu chuyện của họ, không hề nghe thấy lời ca thán nào...
Lại ước mong thêm một lần đến nơi này, được quỳ trước núi. Không chỉ để tin "ai trong đời chẳng có một Khau Vai" như nhà thơ Trần Hòa Bình đã viết... mà còn để thán phục những con người với sức sống và sự dẻo dai, bền bỉ như còn cao hơn núi đá, ngày lại ngày lặng lẽ sống, mưu sinh và giữ gìn bờ cõi biên cương Tổ quốc, giữ gìn di sản cao nguyên đá hùng vĩ bậc nhất đất nước này.
- Tổng hợp từ Nhân Dân, Kiến Thức, Người Đưa Tin và nhiều nguồn khác.
< Tận dụng mọi khe đá để trồng bắp.
Ðúng với tên gọi của nó, suốt cung đường từ TP Hà Giang, đến dốc Bắc Sum, ngược lên cổng trời Quản Bạ, đèo Cán Tỷ, qua Yên Minh, Mậu Duệ, Ðồng Văn, qua cung đường tình yêu Mã Pí Lèng để dừng chân nơi Mèo Vạc, đâu đâu cũng thấy núi là núi. Ðá chồng lên đá, đá đan vào đá chạy sát theo những cung đường cua tay áo và dốc đứng đến rợn người.
< Bấy lâu nay, miền đất địa đầu Hà Giang được coi như một "địa chỉ đỏ" của dân phượt...
Ðứng trên đỉnh Mã Pí Lèng, một bên là núi đá cao sừng sững, một bên là vực sâu thăm thẳm, phóng tầm mắt nhìn bao quát một vùng cao nguyên rộng lớn, mới thấy hết sự hào phóng, kỳ vĩ của đất trời.
Ðiểm nhấn lãng mạn giữa núi non hiểm trở là dòng Nho Quế mềm như vạt eo con gái, uốn lượn quanh các khe núi hẹp. Mùa này dòng Nho Quế đang cạn nước nhưng cũng đủ làm say lòng du khách, xua đi cái khô cằn và khắc nghiệt của bốn bề núi đá bao vây. Ðèo Mã Pí Lèng thuộc huyện Mèo Vạc, có chiều dài khoảng 20 km. Ðây được coi là nơi hiểm trở nhất của cao nguyên đá.
< ... với những ruộng bậc thang tuyệt mỹ...
Có nhiều câu chuyện kể về việc phá đá mở đường đoạn đèo này, với những chi tiết hết sức cảm động. Toàn tuyến đường Hà Giang - Ðồng Văn - Mèo Vạc dài chừng 165 km được làm trong năm năm, nhưng riêng đoạn đèo này phải thi công tới hai năm mới hoàn thành.
Hơn một nghìn thanh niên xung phong từng treo mình trên vách đá suốt 11 tháng ròng, đục từng lỗ mìn phá đá. Hiện nơi đây còn lưu giữ đài tưởng niệm ghi danh những con người dũng cảm, ngoan cường làm nên tuyến đường đèo ấy.
< ... với các cung đường uốn lượn đẹp như mơ, những đỉnh vách núi đá cao kỳ vĩ...
Giờ đây, Mã Pí Lèng được gọi là cung đường tình yêu. Không ai nhớ xuất xứ của cái tên lãng mạn ấy. Phải chăng vì nó là con đường đèo nguy hiểm nhất, là thử thách cuối cùng để đến được chợ tình Khau Vai huyền thoại. Như câu dân ca da diết của người Mông "Anh như con chim bay nhiều mỏi cánh/Tìm đến cành em mà đậu/Em như cành khô bấy lâu/Chờ con chim mỏi cánh bay về/Ðợi anh qua mùa lanh/Ðợi anh qua mùa đào/ Vượt đỉnh Mã Pí Lèng/Ta tìm về với chợ tình Khau Vai".
< Nhưng ít ai để ý đến một cảnh tượng không bắt mắt, không hùng vĩ, nhưng lại thực sự là một 'kỳ quan' được tạo nên bởi nỗ lực phi thường của bàn tay con người: Những ruộng ngô vươn mình giữa núi đá tai mèo cằn cỗi và hiểm trở.
Nếu như cung đường Hà Giang - Ðồng Văn - Mèo Vạc quyến rũ bởi sự nguy hiểm, sợ hãi nín thở nhưng đẹp đến ngỡ ngàng thì điều ám ảnh chúng tôi suốt hành trình lại là sức sống của cao nguyên đá được tạo nên bởi chính những con người nơi đây.

< Cao nguyên đá nổi tiếng là vùng đất khắc nghiệt vì nơi đây chỉ có những ngọn núi đầy đá tai mèo, rất khó khăn cho hoạt động trồng trọt.
Giữa điệp trùng núi đá, những mầm ngô vẫn vươn mình lên xanh tốt. Ngô là loại cây duy nhất có thể sinh trưởng ở mảnh đất khắc nghiệt này, cũng là loại cây nuôi sống đồng bào bao đời nay.
Trên đường Ðồng Văn xuôi Lũng Cú, chúng tôi gặp chị Thùa Thị Thoong đang gùi đất từ vùng thấp để đổ vào từng hốc đá trên cao nguyên trồng ngô.
< Ngô là loại cây duy nhất có thể sinh trưởng ở mảnh đất này và là loại cây nuôi sống đồng bào từ bao đời nay.
Giữa những mô đá tai mèo sắc nhọn tưởng như có thể đâm nát chân người, vẫn thừa ra những khe hở, chị Thoong đã tận dụng chúng, đổ đất gieo hạt. Chồng mất sớm, nhà chị Thoong giờ có năm miệng ăn. Lúa không có, chỉ trồng ngô cho nên cơm chỉ là món hy hữu trong bữa ăn thường ngày.
Bốn đứa trẻ sàn sàn tuổi đến trường nhưng chẳng đứa nào đi học. Chúng như bao đứa trẻ tôi gặp trên chặng đường đi, nói tiếng Kinh bập bõm, đầu trần, chân đất, quần áo bạc mầu, cáu bẩn. Ðứa bé lang thang chơi trên núi đá, đứa lớn hơn theo mẹ gùi đất gieo hạt. Cuộc sống chỉ là mong thoát đói thì làm sao chúng dám ước đến trường?
Ði sâu vào Cột Cờ Lũng Cú, càng gặp nhiều hơn khung cảnh bà con cần mẫn lao động, phần lớn vẫn là căn từng hốc đá để trồng ngô...
< Để có thể trồng ngô, người nông dân nơi đây phải xuống vùng thấp để lấy đất gùi lên núi, đổ vào từng khoảng trống giữa những khối đá tai mèo sắc nhọn để gieo hạt.
Cụ Già Giống Na năm nay đã gần 90 tuổi vẫn đang cùng con cháu gieo hạt trong cái nắng rát những ngày đầu hạ. Cụ nói tiếng Kinh khá rõ. Nhà cụ chủ yếu trồng ngô, chỉ gieo được ít lúa bên khoảnh đất bằng phẳng trước nhà. Thế cũng là tốt lắm rồi đấy - cụ nói - Ở những bản sâu trong núi đá kia còn nhiều hộ nghèo lắm đó. Vì đất trồng lúa hiếm lắm, đến kẽ đá trồng ngô cũng khó tìm. Bây giờ đang là mùa giáp hạt.
Cũng thời điểm này chừng mười năm về trước, gần như cả bản không có gạo ăn, nhà nào còn ngô là may mắn lắm.
Nhưng mấy năm nay, trồng lúa được mùa hơn và giống ngô tốt cũng cho nhiều bắp, cho nên bà con dành dụm được cho những ngày giáp hạt. Mùa này, mỗi ngày chỉ một bữa cơm thôi, còn ăn mèn mén, uống rượu ngô suông- cụ cười nói như đó là chuyện thường tình ở vùng đất này bao đời nay rồi.
Xã Lũng Cú, huyện Ðồng Văn vốn được ví như xã Ðất Mũi của Cà Mau, heo hút và trắc trở. Từ Ðồng Văn đến trung tâm xã là cung đường 26km, cũng vẫn điệp khúc dốc cua tay áo, núi cao và vực sâu.
< Trải qua bao nhiêu năm, những ruông ngô dần dần phủ lên mảng màu xanh như không hề có sự sống của đá tai mèo.
Ðồng bào Mông, Lô Lô trồng lúa, trồng ngô mỗi năm chỉ được một vụ cho nên đời sống hết sức khó khăn. Cả xã có chín thôn bản, thì có đến tám thôn giáp biên, đều ở độ cao trung bình từ 1.600 đến 1.800 m so với mực nước biển.
< Nhiều sườn dốc phủ một màu xanh mơn mởn giữa đá.
Chúng tôi gặp anh Vàng Mí Cấu, Bí thư xã còn rất trẻ, người dân tộc Mông. Giọng nói khê mùi thuốc lào, anh tính, cả xã có hơn 800 hộ dân thì có đến hơn một nửa là hộ nghèo. Nói là nghèo nhưng thực chất vẫn còn những hộ đói, mùa giáp hạt vẫn phải chờ vào cứu trợ gạo của Nhà nước và địa phương.
Ðó là bà con ở những vùng có địa hình quá dốc, chỉ toàn núi đá, không thể trồng trọt hay chăn nuôi gì được. Giọng anh như sáng hơn khi nói về chương trình xây dựng nông thôn mới ở ba thôn Lô Lô Chải, Thèn Pả và Xín Mần với những thành tích được tính bằng bể nước, sân phơi, nhà tắm, nhà vệ sinh và chuồng gia súc. Nhất là 1,7 km đường bê-tông liên thôn.
< Những ruộng ngô nằm chênh vênh bên các hẻm vực sâu thăm thẳm như thách thức sự nghiệt ngã của đất trời.
Ở vùng núi đá này, con số ấy là nỗ lực lớn của chính quyền xã và bà con thôn bản. Khi được hỏi về những khó khăn của bà con trong phát triển sản xuất, giọng anh như chùng xuống: Nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước đã quan tâm đến đời sống của đồng bào dân tộc, nhất là với Lũng Cú - một xã biên giới phía bắc huyện Ðồng Văn. Cuộc sống bà con nhờ thế cũng thay đổi nhiều, nhưng cũng chỉ mới xóa đói chứ để giảm được nghèo vẫn là vô cùng khó vì sản xuất nông nghiệp ở vùng núi đá là thách thức lớn. Với 80% địa hình là đồi núi dốc, khí hậu khắc nghiệt, mùa khô hạn hán, mùa mưa lại đối mặt với lũ quét, mưa đá và sạt lở, cây lúa khó trồng, cây ngô vùi mình trong hốc đá, thì người dân thật khó có cơ hội thoát nghèo bền vững.
< Không có vách đá nào bỏ không cả, tất cả là những đồng ngô nhỏ.
Chúng tôi chạm đỉnh Mèo Vạc khi chợ phiên đã bắt đầu đông. Tiết trời đầu hạ, nắng vàng như rót mật. Một cảm giác say mê ngay lập tức len nhẹ trong lòng khi thấy những em gái Mông má hồng như nỗi nhớ, váy áo hoa văn sặc sỡ, xập xòe nổi bật giữa khung cảnh ồn ã của chợ phiên. Phía kia là những phụ nữ Mông đang thử rượu ngô cho chồng - một cảnh mà tôi nghĩ chẳng nơi nào có được, ngoài những phiên chợ của vùng cao nguyên đá.
< Ngô che khuất cả đá...
Xa xa là hai vợ chồng già dắt nhau xuống chợ, ngồi thưởng thức một bát thắng cố bên bếp lửa nghi ngút khói. Một ông già cô độc ngồi giữa chiếc ghế dài cuối chợ rít hơi thuốc lào sảng khoái.
Nhập vào quán rượu giữa chợ, chàng trai người Mông nom hiền lành nhường tôi một góc ghế dài. Quán chỉ rặt những rượu suông, thuốc lào, chén, bát. "Chén để uống rượu, bát cũng để uống rượu, khi đã ưng nhau rồi thì phải uống bằng bát"- anh người Mông Lò Mí Pố nói với tôi như thế. Anh Pố không nói được tiếng Kinh nhiều.
< Để có thể thu hoạch được những gùi ngô trĩu nặng như thế này, con người của cao nguyên đá phải vượt qua vô vàn trở ngại, từ địa hình hiểm trở cho đến khí hậu khắc nghiệt, hạn hán vào mùa khô, lũ quét mùa mưa.
Hôm nay là chợ phiên, vợ chồng anh Pố, chị Già lên chơi chợ. Chị Già giải thích: Ði làm suốt mà, ngày chợ đi chơi thôi. Mình không đi mua gì, nhà có rau, có mèn mén ăn rồi. Chỉ có hôm thiếu gạo thôi. - Thiếu gạo à, nhà có trồng lúa không? - Không có đất trồng lúa đâu, chỉ trồng ngô thôi. Sự xa lạ nhanh chóng trở nên thân mật với những con người vốn hiền hành, thật thà như đếm. Tôi vui vẻ hỏi: Ở nhà Pố có uống nhiều rượu không, hay chỉ lên chợ mới uống. - Ở nhà cũng uống chứ- vợ anh nhanh nhảu trả lời. Còn uống rượu thay nước vào những mùa khát mà. Mùa khát - đó là chị Già nói đến mùa khô- từ khoảng tháng mười đến hết tháng tư, cao nguyên đá bắt đầu thiếu nước.
< Hốc đá chỉ bằng cái bát cũng đủ để đưa đất vào cho cây ngô mọc.
Mặc dù cả bốn huyện vùng cao nguyên đá Ðồng Văn đều có "hồ treo" được xây dựng ở những vị trí thung lũng để lấy nước từ vách núi đá chung quanh, nhưng dung tích hồ cùng lượng nước không đủ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân. Khi mùa khô đến, nhiều hồ treo trơ cạn đáy, người dân phải dành dụm, dè sẻn từng giọt nước để dùng. Ðối mặt với cái ăn, cái mặc đã nhọc nhằn, đồng bào nơi đây còn phải gồng mình đi qua những mùa khát cơ cực. Lại nhớ lời Bí thư xã Lũng Cú Vàng Mí Cấu: Ở miền xuôi, xây dựng nông thôn mới là những con số về thu nhập bình quân đầu người, mô hình sản xuất kinh tế... Nhưng với đồng bào vùng cao, xây được bể nước đã là một tiêu chí lớn.
< Thành của lao động của họ là minh chứng hùng hồn cho câu "Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm".
Trở về Hà Nội từ Mèo Vạc, bỗng nhớ quay quắt những con người nơi cao nguyên đá. Nhớ những cây sa mộc lặng lẽ trong thung vươn mầu xanh tương phản với sắc xám ngoét của đá, chấp nhận cả hanh khô và nắng lửa, cả cái rét tái tê, bốn mùa không rụng lá. Có cảm giác người dân cao nguyên này cũng giống những cây sa mộc, kiên nhẫn và kiên cường đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt, lặng thầm lèn đất, lèn nước vào đá mà gieo lúa, trồng ngô. Nhưng dường như trong câu chuyện của họ, không hề nghe thấy lời ca thán nào...
Lại ước mong thêm một lần đến nơi này, được quỳ trước núi. Không chỉ để tin "ai trong đời chẳng có một Khau Vai" như nhà thơ Trần Hòa Bình đã viết... mà còn để thán phục những con người với sức sống và sự dẻo dai, bền bỉ như còn cao hơn núi đá, ngày lại ngày lặng lẽ sống, mưu sinh và giữ gìn bờ cõi biên cương Tổ quốc, giữ gìn di sản cao nguyên đá hùng vĩ bậc nhất đất nước này.
- Tổng hợp từ Nhân Dân, Kiến Thức, Người Đưa Tin và nhiều nguồn khác.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bài đăng phổ biến
-
K hu tưởng niệm các vua Hùng là một công trình thuộc khu Cổ Đại của dự án Công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc. Khu tưởng niệm tọa lạc trên ...
-
Khoảng 12 giờ trưa, tàu rời bến thị trấn Ba Hòn (huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang), trong thoáng chốc đã lọt thỏm giữa vùng biển xanh thẫm ...
-
Hãng hàng không Vietnam Airlines mang tới rất nhiều cơ hội đặt vé máy bay đi Nha Trang giá rẻ cho quý khách hàng. Với hàng loạt vé máy bay k...
-
Mới đây hãng hàng không Malaysia Airlines đã gây nên bất ngờ thú vị cho không ít khách hàng khi triển khai chương trình khuyến mãi cho đường...
-
Chưa hề làm khách hàng thất vọng với các đợt khuyến mãi của mình, mới đây hãng hàng không Hongkong Airlines đã triển khai chương “MUA SỚM HƯ...
-
Soi mình bên dòng Thạch Hãn hiền hòa, thành cổ Quảng Trị uy nghi, trầm mặc. Đây được xem là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách...
-
Từ ngày 20/10/2015 hãng hàng không Air China mở bán loạt vé máy bay từ Sài Gòn đến Los Angeles / San Francisco / Vancouver với mức giá CỰC K...
-
Du lịch Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm. Nhiều nước trên thế giới có những điều luật không giống ai. Khách du lịch nếu không biết có thể gặp mộ...
-
Chụp ảnh các công trình biểu tượng vừa dễ, vừa thách thức vì dễ nhàm chán. Những biểu tượng du lịch như tháp Eiffeil, nhà thờ Đức Bà ở Pari...
-
Hãng hàng không Qatar Airways triển khai chương trình khuyến mãi cực hấp dẫn “ KHUYẾN MÃI MÙA XUÂN GIẢM GIÁ 35% BAY ĐẾN 150 ĐIỂM ”. Với điều...

.jpg)








































